Đảng ta là đạo đức, là văn minh
Thứ ba, 03/02/2026 - 14:19 (GMT+7)
TCVM - Trong dòng chảy lịch sử 96 năm (1930–2026), mệnh đề "Đảng ta là đạo đức, là văn minh" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành hệ quy chiếu để xác định tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong bài phát biểu tại Lễ Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” - đây là luận điểm sâu sắc, nhất quán và xuyên suốt trong tư tưởng của Người về Đảng Cộng sản Việt Nam; là kết tinh những giá trị đặc sắc của danh dự, sự đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh và trong sáng của mỗi đảng viên và tổ chức Đảng.
Chính vì lẽ đó, Đảng ta luôn kế thừa và vận dụng sáng tạo những quan điểm của Người vào việc xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Trong dòng chảy của lịch sử chính trị hiện đại, hiếm có một thực thể chính trị nào duy trì được sức sống mãnh liệt và tính chính danh bền vững như Đảng Cộng sản Việt Nam qua suốt 96 năm đầy biến động (3/2/1930 – 3/2/2026).
Khi soi chiếu toàn bộ tiến trình lịch sử này dưới mệnh đề kinh điển "Đảng ta là đạo đức, là văn minh" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta nhận thấy đây không chỉ là sự tổng kết về phẩm chất người cộng sản, mà là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, lý giải vì sao Đảng là lực lượng duy nhất đủ tư cách và năng lực dẫn dắt dân tộc đi từ đêm trường nô lệ đến "Kỷ nguyên vươn mình" được xác lập tại Đại hội XIV (1/2026).
Tính "đạo đức" (sự hi sinh vì dân) và tính "văn minh" (trí tuệ và khoa học) đã hòa quyện biện chứng trong từng quyết sách lịch sử, tạo nên những thắng lợi vĩ đại mà không một lực lượng nào khác có thể thay thế.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng”. Ảnh: Báo QĐND
Ngược dòng thời gian về thời điểm thành lập Đảng ngày 3/2/1930, sự ra đời của Đảng chính là biểu hiện đầu tiên của tính "văn minh" chính trị.
Giữa lúc các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến hay tư sản lâm vào bế tắc, Đảng đã mang đến ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin – hệ tư tưởng khoa học và cách mạng nhất thời đại.
Đảng đã giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước bằng trí tuệ thời đại, kết hợp với "đạo đức" là lòng yêu nước thương nòi.
Sự kết tinh ấy đã bùng nổ thành thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Sự kiện Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời không chỉ là sự hồi sinh của một dân tộc, mà là minh chứng cho thấy: Một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo nhân dân đập tan xiềng xích thực dân, đó là đỉnh cao của văn minh chính trị nhân văn.
Dòng chảy lịch sử tiếp tục cuộn trào qua hai cuộc kháng chiến thần thánh. Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Đại thắng mùa Xuân (30/4/1975) không đơn thuần là thắng lợi quân sự, mà là thắng lợi của "văn minh" (đường lối chiến tranh nhân dân sáng tạo, khoa học quân sự Việt Nam) trước các thế lực hùng mạnh nhưng phi nghĩa.
Đồng thời, đó là biểu tượng vĩ đại của "đạo đức" cách mạng, nơi hàng triệu đảng viên và quần chúng sẵn sàng "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
V.I. Lênin từng nói Đảng là "trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại" và trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự trở thành lương tâm của nhân loại tiến bộ, đấu tranh cho độc lập tự do.
Bước vào giai đoạn xây dựng đất nước, bản lĩnh của Đảng một lần nữa được thử thách nghiệt ngã.
Trước cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng thập niên 80, Đại hội VI (1986) với công cuộc Đổi mới là một quyết định mang tầm vóc lịch sử.
"Đạo đức" lúc này là sự dũng cảm thừa nhận sai lầm, nhìn thẳng vào sự thật; còn "Văn minh" là tư duy đổi mới tư duy kinh tế, chấp nhận cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tính "văn minh" của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện ở năng lực tư duy biện chứng. Đảng không giáo điều mà luôn vận động, phát triển.
Từ chỗ phủ định kinh tế thị trường, Đảng đã văn minh chấp nhận và vận dụng nó như một công cụ để xây dựng chủ nghĩa xã hội (Đổi mới 1986).
Từ chỗ đóng cửa, Đảng đã văn minh chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, biến Việt Nam thành mắt xích quan trọng của chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong kỷ nguyên số 2026, tính văn minh của Đảng thể hiện qua chiến lược chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Chính sự "tự phủ định" biện chứng này đã cứu đất nước khỏi sụp đổ và mở ra giai đoạn phát triển rực rỡ.
Thể chế là đột phá của đột phá
Một lần nữa có thể khẳng định, trong dòng chảy lịch sử 96 năm (1930–2026), mệnh đề "Đảng ta là đạo đức, là văn minh" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành hệ quy chiếu để xác định tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tuy nhiên, phải đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tháng 1/2026), sau 40 năm đổi mới, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Tô Lâm, mệnh đề này mới thực sự được cụ thể hóa thành một cương lĩnh hành động quyết liệt, mở ra điều mà Nghị quyết Đại hội gọi là "Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam".

Đại hội XIV. Ảnh minh họa
Nếu như trước đây, "đạo đức" và "văn minh" thường được nhìn nhận ở góc độ phẩm chất cán bộ, thì tại Đại hội XIV, chúng đã được nâng tầm thành triết lý Quản trị quốc gia: Tinh gọn về tổ chức (văn minh) và Không khoan nhượng với lãng phí (đạo đức).
Xét về phương diện "văn minh", Nghị quyết Đại hội XIV đã đánh dấu một bước ngoặt về tư duy lý luận khi xác định "Thể chế là đột phá của đột phá".
Tính văn minh của Đảng cầm quyền trong kỷ nguyên số không nằm ở quy mô bộ máy đồ sộ, mà ở khả năng thiết kế một kiến trúc thượng tầng thông minh, hiệu năng.
Trong Báo cáo chính trị trình Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra một định hướng mang tính cách mạng: "Xây dựng hệ thống chính trị Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả".
Đây là sự hiện thực hóa tư duy Mác-xít về việc kiến trúc thượng tầng phải phù hợp và mở đường cho cơ sở hạ tầng phát triển. Đảng đã thể hiện bản lĩnh văn minh vượt trội khi dám "tự phẫu thuật" cắt bỏ những khâu trung gian, rườm rà vốn đã tồn tại hàng thập kỷ.
Tổng Bí thư nhấn mạnh: "Dứt khoát từ bỏ tư duy 'không quản được thì cấm', tư duy làm thay, xin - cho", thay vào đó là tư duy kiến tạo phát triển.
Sự dũng cảm đổi mới này chứng minh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất sở hữu "trí tuệ thời đại" để dẫn dắt đất nước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế tri thức toàn cầu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Song hành với sự "văn minh" trong tổ chức là sự quyết liệt chưa từng có về "đạo đức" trong hành động.
Điểm nhấn đặc sắc nhất trong tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội XIV là việc nâng tầm cuộc chiến chống lãng phí lên ngang hàng với chống tham nhũng.
Trong bài phát biểu chỉ đạo, đồng chí Tổng Bí thư đã đưa ra một luận điểm đanh thép, trở thành kim chỉ nam cho đạo đức Đảng trong giai đoạn mới: "Lãng phí là hành vi xâm phạm vào nguồn lực của đất nước, của nhân dân... Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để đóng góp, nếu tiêu dùng lãng phí là có tội với nhân dân".
Đạo đức của Đảng giờ đây không chỉ là sự liêm khiết thụ động, mà là trách nhiệm chính trị chủ động trước từng đồng vốn, từng tấc đất của quốc gia. Khi Đảng tuyên chiến với những dự án "đắp chiếu", những lãng phí trong bộ máy công quyền, Đảng đang thực hành chữ "Liêm" và "Chính" ở trình độ cao nhất.
Khẩu hiệu hành động "Nói ít - Làm nhiều - Làm đến cùng" được nêu ra tại Đại hội chính là biểu hiện sinh động của đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới – đạo đức của hiệu quả và trách nhiệm giải trình.
Sự thống nhất biện chứng giữa tư duy tổ chức khoa học (văn minh) và lương tri chính trị (đạo đức) được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIV chính là bằng chứng thuyết phục nhất cho vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng.
Không một lực lượng chính trị nào khác có thể vừa đủ tầm nhìn để thiết kế chiến lược chuyển đổi số quốc gia, vừa đủ uy tín để huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc như Đảng ta.
Câu hỏi mà Tổng Bí thư Tô Lâm đặt ra cho mỗi đại biểu tại Đại hội: "Việc này có lợi gì cho dân? Có làm cho dân tin hơn không?" chính là thước đo tối thượng cho tính chính danh của Đảng.
Kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng, đồng thời với thành công của Đại hội XIV, ta có thể khẳng định: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử, được bảo đảm bằng một cam kết chính trị:
Văn minh trong kiến tạo thể chế và đạo đức trong sử dụng nguồn lực nhân dân.
Đó chính là bệ phóng vững chắc đưa dân tộc Việt Nam vươn mình mạnh mẽ, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Như vậy, xuyên suốt từ 1930 đến 2026, từ ngọn cờ búa liềm trên đỉnh núi Hồng Lĩnh đến những quyết sách chiến lược tại Hội trường Ba Đình trong Đại hội XIV, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán trong bản chất nhưng không ngừng vươn lên về trí tuệ. Sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu lịch sử bởi không lực lượng nào khác sở hữu sự kết hợp hoàn hảo giữa lý luận khoa học (văn minh) và lòng trung thành tuyệt đối với nhân dân (đạo đức).
Dưới sự chèo lái của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV và Tổng Bí thư Tô Lâm, với tư duy "Kỷ nguyên vươn mình", cho thấy đất nước đang có đầy đủ cơ sở khoa học và niềm tin thực tiễn để khẳng định:
Đảng sẽ tiếp tục hoàn thành sứ mệnh lịch sử, đưa dân tộc Việt Nam bước lên đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Bác Hồ hằng mong ước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 12. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr. 403.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2026.
3. Tô Lâm: "Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày Báo cáo về các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng". Hà Nội, ngày 20/01/2026.
4. Tô Lâm: "Chống lãng phí - Nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hiện nay". Tạp chí Cộng sản, 2024. (Được tái khẳng định trong Báo cáo chính trị Đại hội XIV).
5. Tô Lâm: Bài phát biểu bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Hà Nội, ngày 23/01/2026.
6. Tô Lâm: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới". Báo Nhân Dân, 2025.
Lại Duy Cường