Ban hành Nghị định 57 về cơ cấu lại vốn nhà nước, mở rộng ưu đãi cổ phần cho người lao động
Thứ bảy, 14/02/2026 - 06:55 (GMT+7)
TCVM - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 57/2026/NĐ-CP quy định cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trong đó làm rõ điều kiện cổ phần hóa, ba hình thức chuyển đổi và nhiều chính sách đáng chú ý bảo đảm quyền lợi người lao động, đặc biệt cơ chế mua cổ phần ưu đãi và hỗ trợ lao động dôi dư.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/2/2026 về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tạo khung pháp lý cho quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, đồng thời bổ sung nhiều chính sách cụ thể nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong quá trình chuyển đổi.
Theo Nghị định, cổ phần hóa được hiểu là việc tổ chức lại doanh nghiệp bằng cách chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn sang mô hình công ty cổ phần. Quá trình này phải gắn với mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đối tượng thực hiện cổ phần hóa là các doanh nghiệp cấp I như công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong mô hình mẹ – con và các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn, với điều kiện không thuộc diện Nhà nước cần giữ toàn bộ vốn và sau xử lý tài chính, giá trị thực tế doanh nghiệp phải bằng hoặc lớn hơn các khoản phải trả.
Nghị định quy định ba hình thức cổ phần hóa gồm giữ nguyên phần vốn nhà nước và phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ; bán một phần vốn nhà nước hiện có hoặc kết hợp bán vốn với phát hành thêm cổ phiếu; và bán toàn bộ vốn nhà nước hoặc kết hợp bán vốn với phát hành thêm cổ phiếu. Các phương án này được lựa chọn tùy theo đặc thù và mục tiêu tái cơ cấu từng doanh nghiệp.
Một trong những nội dung đáng chú ý là chính sách bán cổ phần ưu đãi cho người lao động. Theo đó, người lao động và người quản lý đang làm việc tại doanh nghiệp cổ phần hóa, hoặc được cử làm đại diện phần vốn tại doanh nghiệp khác nhưng chưa từng hưởng ưu đãi, được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm làm việc thực tế trong khu vực nhà nước với giá bằng 60% mệnh giá, tương đương 10.000 đồng/cổ phần. Người đại diện hộ gia đình nhận khoán tại các công ty nông, lâm nghiệp khi chuyển đổi cũng được áp dụng cơ chế tương tự. Số cổ phần ưu đãi này phải nắm giữ tối thiểu 3 năm và không được chuyển nhượng trong thời gian đó, đồng thời tổng giá trị cổ phần ưu đãi không vượt quá giá trị phần vốn chủ sở hữu theo sổ sách kế toán.
Ngoài phần ưu đãi cơ bản, người lao động có nhu cầu gắn bó lâu dài với doanh nghiệp có thể mua thêm cổ phần theo mức 200 cổ phần cho mỗi năm cam kết làm việc, tối đa 2.000 cổ phần/người. Riêng các chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn cao được mua thêm 500 cổ phần cho mỗi năm cam kết, tối đa 5.000 cổ phần/người. Giá bán phần mua thêm được xác định theo giá khởi điểm đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong phương án cổ phần hóa. Sau thời gian cam kết, số cổ phần này được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Trường hợp doanh nghiệp thay đổi cơ cấu hoặc người lao động buộc phải chấm dứt hợp đồng do yêu cầu khách quan, cổ phần mua thêm vẫn được bảo đảm quyền lợi; nếu tự ý chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cam kết, người lao động phải bán lại cổ phần cho doanh nghiệp theo quy định.
Nghị định cũng cho phép người lao động mua thêm cổ phần thông qua đấu giá công khai như các nhà đầu tư khác nếu có nhu cầu vượt mức ưu đãi, đồng thời áp dụng các chính sách tương tự đối với doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu thông qua Công ty Mua bán nợ Việt Nam.
Đối với lao động dôi dư, người lao động không được bố trí việc làm tại công ty cổ phần theo phương án sử dụng lao động sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Các trường hợp quản lý doanh nghiệp không sắp xếp được vị trí phù hợp cũng được xem xét giải quyết theo cơ chế tinh giản biên chế hoặc chính sách lao động hiện hành.
Việc ban hành Nghị định 57 được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý minh bạch, đồng bộ cho quá trình cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp sau cổ phần hóa.