Mỗi tên lửa phóng đi trên bầu trời Trung Đông là thách thức với lương tri và phẩm giá con người
Thứ ba, 03/03/2026 - 06:26 (GMT+7)
TCVM - Phản biện việc sử dụng vũ lực vì vậy không phải là lập trường lý tưởng hóa, mà là yêu cầu thực tế của một thế giới phụ thuộc lẫn nhau. Trung Đông hôm nay là phép thử cho khả năng tự giới hạn của quyền lực trong thế kỷ XXI.

Cột khói bốc lên từ Trung tâm Hỗ trợ Hoạt động Hải quân (NSA) của Mỹ ở Bahrain ngày 28/2. Ảnh: AFP
Từ những bất đồng âm ỉ quanh thỏa thuận hạt nhân đến chính sách “gây sức ép tối đa” dưới thời Tổng thống Donald Trump, căng thẳng Mỹ – Iran đã nhiều lần tiến sát ngưỡng khủng hoảng. Những ngày gần đây, Mỹ và Israel tập kích nhiều địa điểm trên khắp Iran, bao gồm thủ đô Tehran, trong chiến dịch được mô tả là “quy mô lớn”. Iran lập tức đáp trả bằng các đòn tên lửa nhằm vào Israel và các căn cứ của Mỹ trong khu vực. Chuỗi hành động và phản ứng ấy không chỉ làm gia tăng rủi ro xung đột khu vực mà còn đặt ra thách thức trực tiếp đối với an ninh toàn cầu.
Tình trạng leo thang này đồng thời phơi bày một nghịch lý cốt lõi của chính trị quốc tế đương đại: các quốc gia nhân danh an ninh để hành động, nhưng chính những hành động ấy lại làm xói mòn nền tảng an ninh chung. Trong hệ thống quốc tế vô chính phủ – nơi không tồn tại một quyền lực siêu quốc gia đủ sức cưỡng chế các chủ thể – cạnh tranh an ninh là điều khó tránh khỏi. Các quốc gia có xu hướng tự bảo đảm an ninh bằng cách gia tăng năng lực quân sự, xây dựng liên minh hoặc mở rộng ảnh hưởng chiến lược. Kenneth N. Waltz- Người sáng lập chủ nghĩa hiện thực cấu trúc - đã phân tích cấu trúc này như đặc tính khách quan của hệ thống quốc tế hiện đại.
Robert Jervis - giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Columbia - gọi hệ quả của nó là “thế lưỡng nan an ninh”: khi một quốc gia tăng cường phòng vệ, quốc gia khác có thể diễn giải hành động ấy như một mối đe dọa và phản ứng tương ứng.
Tuy nhiên, giải thích cấu trúc không đồng nghĩa với hợp thức hóa bạo lực. Chính trong môi trường thiếu thẩm quyền tối cao ấy, nhu cầu về giới hạn đạo lý của quyền lực càng trở nên cấp thiết. Và mọi giới hạn đạo lý cuối cùng đều phải đặt sinh mạng con người lên cao nhất. Khi các đòn tập kích và trả đũa liên tiếp diễn ra, điều bị thử thách không chỉ là cán cân sức mạnh, mà là chính nền tảng chính danh của quyền lực.
Cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giản lược thành câu chuyện một quốc gia gây hấn và một quốc gia phòng vệ. Trung Đông là không gian nơi nhiều tầng xung đột giao cắt: cạnh tranh cường quốc, đối đầu ý thức hệ, bất cân xứng quân sự và di sản can thiệp kéo dài nhiều thập niên.
Iran kiểm soát vị trí chiến lược tại Eo biển Hormuz – một trong những điểm nghẽn năng lượng quan trọng nhất thế giới. Israel duy trì ưu thế quân sự vượt trội và năng lực răn đe hạt nhân không tuyên bố, đồng thời giữ vai trò trụ cột trong cấu trúc an ninh khu vực của Hoa Kỳ.
Quan hệ đối kháng giữa Iran và Israel vì vậy mang tính tồn tại trong nhận thức chiến lược của hai bên.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở phân tích song phương, ta sẽ bỏ sót tầng sâu hơn: Trung Đông là một “điểm nút” của cạnh tranh hệ thống trong bối cảnh trật tự quốc tế đang tái cấu hình. Hoa Kỳ tìm cách duy trì vai trò bảo đảm an ninh khu vực trong khi tái cân bằng sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; Nga củng cố vị thế tại Syria để duy trì đòn bẩy chiến lược; Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng kinh tế – năng lượng và đóng vai trò trung gian ngoại giao khi có thể. Cạnh tranh ở đây không thuần túy quân sự mà còn là cạnh tranh về mô hình trật tự.
Trong môi trường đa cực đang hình thành, thế lưỡng nan an ninh trở nên phức hợp: không chỉ là nghi kỵ giữa hai quốc gia, mà là sự chồng lấn của nhiều tầng nghi kỵ. Một hành động quân sự giới hạn có thể bị diễn giải qua lăng kính cạnh tranh toàn cầu và kích hoạt phản ứng vượt ngoài dự tính ban đầu.
Ở tầng chuẩn mực, Hiến chương Liên Hợp Quốc thiết lập nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực như nền tảng của trật tự hậu 1945. nhiên, chuẩn mực ấy chỉ tồn tại nếu các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc, tự ràng buộc mình vào nó. Khi khái niệm “tự vệ” được mở rộng linh hoạt để bao trùm các hành động phủ đầu hoặc trả đũa vượt mức cần thiết, luật pháp quốc tế dần bị diễn giải theo lợi ích. Trật tự dựa trên luật lệ có nguy cơ chuyển hóa thành trật tự dựa trên khả năng cưỡng chế.
Những người ủng hộ chiến lược cứng rắn thường viện dẫn lý thuyết răn đe của Thomas C. Schelling - (Nhà kinh tế học đoạt Nobel, chuyên gia chiến lược và lý thuyết trò chơi), người cho rằng răn đe có thể duy trì hòa bình nếu các bên có khả năng truyền tín hiệu và kiểm soát leo thang.
Nhưng điều kiện tiên quyết của răn đe ổn định là tính toán hợp lý và kênh liên lạc hiệu quả.

Hậu quả vụ không kích của Mỹ và Israel vào thủ đô Tehran, Iran, ngày 28.2.2026. Ảnh: AFP
Trong bối cảnh Trung Đông – với lực lượng ủy nhiệm, xung đột phi đối xứng và diễn ngôn đối kháng sâu sắc – xác suất tính toán sai lầm không hề nhỏ. Răn đe trong môi trường thiếu minh bạch có thể biến thành cơ chế kích hoạt xung đột thay vì ngăn chặn nó.
Theo dự án Costs of War của Đại học Brown, các cuộc chiến hậu 11/9 đã gây ra hơn 900.000 cái chết và tiêu tốn trên 8 nghìn tỷ USD.
Những con số ấy không chỉ phản ánh chi phí kinh tế mà còn đo lường tổn thất nhân đạo và sự bất ổn kéo dài. Iraq và Afghanistan cho thấy ưu thế quân sự không tự động chuyển hóa thành tính chính danh chính trị bền vững.
Ở tầng sâu hơn cả cấu trúc và thực nghiệm là vấn đề đạo lý. Immanuel Kant (Triết gia Đức, nền tảng của triết học khai sáng và lý thuyết đạo đức hiện đại) trong Perpetual Peace, đặt nền tảng cho quan niệm rằng con người không bao giờ được coi là phương tiện thuần túy cho mục đích quyền lực.
Nếu sinh mạng dân thường bị biến thành biến số phụ trong tính toán chiến lược, chính trị quốc tế đã vượt qua ranh giới của tính chính danh. Lương tri, trong nghĩa này, không phải cảm xúc đạo đức riêng tư; nó là giới hạn cấu trúc bảo đảm rằng quyền lực không tự hủy hoại mình.
Sau Thế chiến II, Hoa Kỳ nổi lên như siêu cường chi phối cả kinh tế lẫn quân sự. Hệ thống Bretton Woods, NATO và mạng lưới căn cứ toàn cầu hình thành cái gọi là “trật tự tự do do Mỹ dẫn dắt”.
Trong cấu trúc đó, Mỹ tự xem mình là người bảo đảm ổn định hệ thống. Tuy nhiên, tự nhận vai trò bảo đảm ổn định không đồng nghĩa với có thẩm quyền pháp lý tuyệt đối. Khi can thiệp quân sự không có ủy quyền của Hội đồng Bảo an – như Iraq năm 2003 – tính chính danh bị tranh cãi sâu sắc.
Khi áp đặt trừng phạt đơn phương ngoài khuôn khổ Liên Hợp Quốc, nhiều quốc gia coi đó là sự mở rộng quyền lực vượt chuẩn mực đa phương.
Ở Trung Đông, lịch sử can thiệp kéo dài khiến nhiều xã hội trong khu vực nhìn Washington không như “người bảo vệ”, mà như một tác nhân quyền lực theo đuổi lợi ích riêng.
Chính vì vậy, sự tôn trọng đối với các quốc gia Trung Đông không chỉ là phép lịch sự ngoại giao, mà là yêu cầu cấu trúc của một trật tự ổn định.
Không thể nói đến ổn định khu vực nếu các quốc gia trong khu vực không được coi là chủ thể chính trị đầy đủ, có quyền tự quyết và quyền được an ninh mà không bị biến thành công cụ trong cạnh tranh toàn cầu.
Trong trật tự đang tái cấu hình, lương tri phải được hiểu như giới hạn cấu trúc của quyền lực. Khi quyền lực không còn bị ràng buộc bởi chuẩn mực pháp lý và đạo lý chung, nó sẽ kích hoạt chuỗi phản ứng làm suy yếu chính môi trường tồn tại của mình.
Phản biện việc sử dụng vũ lực vì vậy không phải là lập trường lý tưởng hóa, mà là yêu cầu thực tế của một thế giới phụ thuộc lẫn nhau. Trung Đông hôm nay là phép thử cho khả năng tự giới hạn của quyền lực trong thế kỷ XXI.
Và mỗi tên lửa phóng đi không chỉ là hành vi quân sự; đó là một thách thức trực tiếp đối với lương tri và phẩm giá con người.
Bài học từ Việt Nam thế kỷ XX cho thấy chiến tranh có thể bị cuốn vào cạnh tranh hệ thống rộng lớn hơn bản thân xung đột nội tại. Hàng triệu sinh mạng đã bị cuốn vào vòng xoáy của Chiến tranh Lạnh. Nhưng điều đáng nói hơn là lựa chọn sau chiến tranh. Đổi mới năm 1986 và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995 cho thấy khả năng chuyển hóa từ đối đầu sang hội nhập.
Điểm cốt lõi của kinh nghiệm ấy không nằm ở diễn ngôn chiến thắng, mà ở sự thừa nhận rằng hòa bình và phát triển là điều kiện tiên quyết cho phẩm giá dân tộc. Đối thoại không phải là sự từ bỏ lợi ích; đó là cách tái định nghĩa lợi ích trong bối cảnh liên thuộc ngày càng sâu.
Tài liêu tham khảo
Kenneth N. Waltz, Theory of International Politics (Reading, MA: Addison-Wesley, 1979).
Robert Jervis, “Cooperation under the Security Dilemma,” World Politics 30, no. 2 (1978): 167–214.
United Nations, Charter of the United Nations, 1945.
Thomas C. Schelling, The Strategy of Conflict (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1960).
Neta C. Crawford, “United States Budgetary Costs and Obligations of Post-9/11 Wars,” Costs of War Project, Brown University, 2023.
Immanuel Kant, Perpetual Peace (1795).
Văn Phương Đan