Hoàn thiện khung pháp lý về tài nguyên nước, siết chặt điều kiện cấp phép khai thác
Thứ tư, 21/01/2026 - 06:08 (GMT+7)
TCVM - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước, nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường bảo vệ nguồn nước và bảo đảm khai thác, sử dụng tài nguyên nước hiệu quả, bền vững.

Ảnh minh họa.
Nghị định số 23/2026/NĐ-CP quy định việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến lĩnh vực tài nguyên nước, trong đó đáng chú ý là việc bổ sung các quy định về nguyên tắc, căn cứ và điều kiện cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và thăm dò nước dưới đất vào Nghị định số 54/2024/NĐ-CP ngày 16/5/2024 của Chính phủ.
Theo đó, việc đăng ký, cấp phép thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên nước phải bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật; đồng thời bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được cấp phép cũng như các chủ thể liên quan. Nghị định nhấn mạnh ưu tiên cấp phép khai thác tài nguyên nước phục vụ sinh hoạt, gắn với yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước và môi trường, không để xảy ra suy thoái, cạn kiệt hoặc ô nhiễm nguồn nước trong quá trình khai thác, sử dụng.
Việc cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và giấy phép thăm dò nước dưới đất được thực hiện trên cơ sở các quy hoạch về tài nguyên nước, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và các quy định về vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất. Trường hợp chưa có quy hoạch hoặc quy hoạch chưa quy định cụ thể, việc cấp phép phải căn cứ vào khả năng đáp ứng của nguồn nước và tính cấp thiết của nhu cầu sử dụng, đặc biệt là nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho Nhân dân. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền xem xét hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong khu vực, kết quả thẩm định hồ sơ và nhu cầu khai thác, sử dụng nước được nêu trong văn bản đề nghị cấp phép.
Nghị định quy định rõ các điều kiện đối với tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và giấy phép thăm dò nước dưới đất. Trong đó, tổ chức, cá nhân phải hoàn thành việc lấy ý kiến theo quy định của Luật Tài nguyên nước; hoạt động khai thác phải phù hợp với quy hoạch, quy định bảo vệ tài nguyên nước và không vi phạm các quy định về vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất. Đối với hoạt động thăm dò nước dưới đất, phương án thi công phải bảo đảm yêu cầu bảo vệ nước dưới đất và phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành.

Khai thác nước dưới đất có thời hạn là 5 năm.
Đối với tổ chức khai thác nước mặt có xây dựng đập, hồ chứa trên sông, suối, ngoài các điều kiện chung, còn phải có phương án trang bị thiết bị, nhân lực để quan trắc khí tượng thủy văn, dự báo lượng nước đến hồ, giám sát khai thác tài nguyên nước và có quy trình vận hành hồ chứa theo quy định pháp luật về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước.
Nghị định cũng quy định cụ thể về thời hạn của các loại giấy phép khai thác tài nguyên nước. Theo đó, giấy phép khai thác nước mặt có thời hạn tối đa 10 năm; giấy phép khai thác nước biển tối đa 15 năm; giấy phép khai thác nước dưới đất tối đa 5 năm và đều được xem xét gia hạn nhiều lần theo quy định. Giấy phép thăm dò nước dưới đất có thời hạn 2 năm và được gia hạn một lần với thời gian không quá 1 năm. Trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị thời hạn ngắn hơn, giấy phép được cấp theo thời hạn đề nghị.
Bên cạnh đó, Nghị định số 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về gia hạn giấy phép, yêu cầu hồ sơ đề nghị gia hạn phải được nộp trước khi giấy phép hết hiệu lực ít nhất 45 ngày. Tổ chức, cá nhân xin gia hạn phải hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính liên quan đến quyền khai thác tài nguyên nước và không có tranh chấp tại thời điểm nộp hồ sơ. Trường hợp không thực hiện gia hạn đúng thời hạn nhưng vẫn có nhu cầu tiếp tục khai thác, tổ chức, cá nhân phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép mới theo quy định.
Việc ban hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần hoàn thiện khung pháp lý về quản lý tài nguyên nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lý, tiết kiệm và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn tới.