Chủ Nhật, 19/04/2026 08:41

Tạp chí Việt Mỹ

Tất cả chuyên mục

An toàn thực phẩm học đường bài 4: Việt Nam có thể học gì từ Mỹ và Nhật?

Chủ nhật, 19/04/2026 - 05:33 (GMT+7)

TCVM - Theo công bố của JAMA, tạp chí y học nổi tiếng nước Mỹ cho rằng, bữa trưa tại trường học có thể coi là bữa ăn lành mạnh nhất mà trẻ em Mỹ ăn trong ngày.

Hối lộ, khi quy trình an toàn bị bẻ cong có chủ đích

Vụ việc hơn 300 tấn thịt lợn bệnh bị phát hiện cung cấp vào bếp ăn của 26 trường học công lập hay việc chỉ khởi nguồn từ nghi vấn tại một trường mầm non ở Thái Nguyên đã phát hiện ra lỗ hổng để thực phẩm bẩn leo lên bàn ăn của học sinh, đang đẩy vấn đề an toàn thực phẩm học đường trở thành tâm điểm của dư luận.

Không chỉ là câu chuyện về vệ sinh dịch tễ, đây còn là một cuộc khủng hoảng niềm tin ngay trong môi trường đáng lẽ phải an toàn nhất với trẻ em.

Từ một nghi vấn ban đầu tại một trường mầm non ở xã Văn Lăng (Thái Nguyên), sự việc nhanh chóng cho thấy những bất ổn nghiêm trọng trong việc kiểm soát chất lượng thực phẩm trong nhà trường.

Không chờ đợi kết luận chính thức, phụ huynh đã chủ động gửi mẫu thịt từ bếp ăn bán trú đi xét nghiệm độc lập tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả trả về khiến nhiều người không khỏi lo ngại: mẫu thịt dương tính với virus Dịch tả lợn châu Phi (ASF) và vi khuẩn E. coli.

Điều đáng quan tâm là, nếu như phụ huynh không chủ động kiểm tra thì liệu sự việc có bị phát hiện, liệu nhà trường có tiến hành kiểm tra định kỳ nguồn thực phẩm đang sử dụng hay không?

Diễn biến sau đó cho thấy vấn đề không dừng lại ở nghi vấn chuyên môn.

Cơ quan điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam chủ cơ sở cung cấp thực phẩm, cựu hiệu trưởng và kế toán một trường mầm non tại Thái Nguyên về hành vi đưa và nhận hối lộ trong quá trình cung cấp suất ăn cho nhà trường.

Theo cơ quan công an tỉnh Thái Nguyên, các đối tượng bị khởi tố, bắt tạm giam gồm: Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1976, chủ hộ kinh doanh thực phẩm Nguyễn Văn Thành, địa chỉ xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Thị Tâm, sinh năm 1981, trú tại xã Nam Hòa, tỉnh Thái Nguyên (nguyên Hiệu trưởng Trường Mầm non Nam Hòa) và Trần Thị Hằng, sinh năm 1982, trú tại phường Linh Sơn, tỉnh Thái Nguyên (Kế toán Trường Mầm non Nam Hòa, xã Nam Hòa, tỉnh Thái Nguyên).
Theo kết quả điều tra ban đầu của Phòng Cảnh sát kinh tế, Công an tỉnh Thái Nguyên: Hộ kinh doanh Nguyễn Văn Thành được cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh với ngành nghề chính là “Mua bán thực phẩm tươi sống, thực phẩm chín”. Các năm học từ năm 2022 đến 2026, hộ kinh doanh này đã ký hợp đồng cung cấp thực phẩm và suất ăn cho nhiều trường học thuộc huyện Đồng Hỷ cũ.

Theo kết quả điều tra ban đầu, để được cung cấp thực phẩm cho trường học, phía doanh nghiệp đã chi trả khoảng 6% giá trị hợp đồng hàng tháng cho cán bộ nhà trường trong thời gian kéo dài nhiều tháng.

Hành động của cơ quan chức năng đã làm rõ một sự thật kinh hoàng bấy lâu nay, đây không còn là câu chuyện “thực phẩm bẩn lọt qua kiểm soát”, mà là dấu hiệu quy trình bị bẻ cong có chủ đích, nơi mà lợi ích kinh tế có thể vô hiệu hóa toàn bộ cơ chế giám sát.

Nếu sự việc tại Thái Nguyên là điểm khởi phát, thì kết quả điều tra về đường dây cung ứng thực phẩm tại Hà Nội tiếp tục cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Cơ quan chức năng xác định hơn 300 tấn thịt lợn bệnh, không rõ nguồn gốc đã được đưa vào bếp ăn của 26 trường học công lập, chủ yếu là bậc mầm non và tiểu học.

Đây là nhóm đối tượng có hệ miễn dịch còn chưa hoàn thiện, dễ bị tổn thương nhất trước các nguy cơ từ thực phẩm. Việc một khối lượng lớn thịt lợn nhiễm bệnh, không đảm bảo tiêu chuẩn vẫn có thể đưa vào sử dụng trong thời gian dài cho thấy những khoảng trống đáng lo ngại trong hệ thống giám sát – không chỉ ở doanh nghiệp, mà cả trong khâu tiếp nhận và kiểm soát tại nhà trường.

Dưới góc độ y khoa, Trần Bắc Triệu phân tích: “Với E. coli, đây là vi khuẩn đường ruột, trong đó một số chủng gây bệnh có thể tạo độc tố dẫn đến tiêu chảy cấp, đau bụng, nôn ói… Ở trẻ mầm non có thể dẫn đến mất nước nhanh, rối loạn điện giải, thậm chí biến chứng nặng như suy thận. Trong khi đó, virus Dịch tả lợn châu Phi không gây bệnh trên người, nhưng cho thấy nguồn nguyên liệu có thể đến từ động vật bệnh, kéo theo nguy cơ vi sinh khác. Mối nguy lớn nhất là sự suy giảm an toàn của toàn bộ chuỗi thực phẩm”.

Việt Nam có thể học hỏi gì từ việc kiểm soát bữa ăn học đường như Mỹ, Nhật?

Sau sự việc từ Hà Nội đến Thái Nguyên, đang khiến dư luận trăn trở với câu hỏi: Vì sao một hệ thống có đầy đủ quy định, nhiều tầng giám sát vẫn không ngăn được thực phẩm bẩn vào trường học?

Một nguyên nhân rõ ràng là cơ chế lựa chọn nhà cung cấp còn nặng về giá. Khi chi phí bữa ăn bị khống chế, yếu tố “giá rẻ” dễ lấn át tiêu chuẩn an toàn.

Khâu tiếp nhận thực phẩm thường do cấp dưỡng hoặc nhân viên hành chính đảm nhiệm – những người không được đào tạo để nhận diện rủi ro vi sinh, đặc biệt với các tác nhân không thể phát hiện bằng cảm quan.

Giám sát của phụ huynh vẫn mang tính tự phát. Họ có thể phát hiện vấn đề như tại Thái Nguyên, nhưng không có đủ công cụ và thẩm quyền để can thiệp từ đầu.

Và khi xuất hiện yếu tố hối lộ, thông đồng, như vụ việc đã bị khởi tố, thì toàn bộ hệ thống – dù có quy định – vẫn có thể bị vô hiệu hóa từ bên trong.

Sự việc tại Thái Nguyên cho thấy việc xử lý vi phạm đơn lẻ là chưa đủ.

Vấn đề cốt lõi nằm ở việc xây dựng một hệ thống kiểm soát không thể bị chi phối bởi lợi ích cục bộ.

Điều này cho thấy, cần chuyên nghiệp hóa đội ngũ giám sát bằng việc bố trí nhân sự chuyên trách về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm tại các cụm trường với trách nhiệm pháp lý rõ ràng.

Song song đó, việc số hóa chuỗi cung ứng cần được đẩy mạnh, thông qua mã QR truy xuất nguồn gốc và nhật ký thực phẩm điện tử, giúp phụ huynh có thể chủ động kiểm tra thông tin.

Một yếu tố không kém phần quan trọng là vai trò của phụ huynh. Cần có cơ chế để Ban đại diện cha mẹ học sinh tham gia chính thức vào quá trình lựa chọn nhà cung cấp, dưới sự hướng dẫn chuyên môn của cơ quan y tế.

Hiện tại, sự việc vẫn đang khiến nhiều bậc phụ huynh quan ngại về bữa ăn bán trú của con em mình. Niềm tin chỉ có thể được khôi phục khi các sai phạm được xử lý minh bạch, trách nhiệm được xác định đến cùng và các giải pháp phòng ngừa được thực thi thực chất.

Trẻ em Mỹ trong giờ ăn trưa (Ảnh: Business Insider).

Nhìn ra thế giới, cách Nhật BảnHoa Kỳ kiểm soát bữa ăn học đường cho thấy một khác biệt căn bản: họ không dựa vào cam kết, mà dựa vào hệ thống không thể bị vô hiệu hóa.

Tại Nhật Bản, bữa ăn học đường đã được luật hóa từ rất sớm thông qua Luật Bữa ăn học đường và tiếp đó là Luật Shokuiku về giáo dục dinh dưỡng. Khi đã trở thành nghĩa vụ pháp lý, việc tổ chức bữa ăn không còn là lựa chọn của từng trường mà là một phần của hệ thống giáo dục quốc gia.

Mỗi trường đều có nhân sự chuyên trách dinh dưỡng, chịu trách nhiệm kiểm soát thực phẩm ngay từ đầu vào. Thực phẩm sau chế biến phải lưu mẫu trong 48 giờ để phục vụ truy vết khi có sự cố.

Quan trọng hơn, toàn bộ mô hình được thiết kế dựa trên nguyên tắc trách nhiệm cá nhân rõ ràng – sai phạm không thể bị “hòa tan” trong tập thể.

Cùng với đó, Nhật Bản áp dụng các tiêu chuẩn quản lý an toàn thực phẩm như HACCP trên toàn chuỗi, từ sản xuất đến chế biến và phân phối, nhằm kiểm soát mối nguy ngay từ gốc thay vì chờ xử lý hậu quả.

Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, hệ thống bữa ăn học đường vận hành theo hướng kỹ thuật hóa kiểm soát. Các chương trình như bữa trưa học đường quốc gia được quản lý bởi USDA, áp dụng chặt chẽ hệ thống HACCP – tức là xác định trước các điểm có nguy cơ cao và kiểm soát chúng bằng dữ liệu, nhiệt độ, quy trình và hồ sơ.

Mỗi lô thực phẩm đều phải truy xuất được nguồn gốc, cho phép cơ quan chức năng lần ngược toàn bộ chuỗi cung ứng trong thời gian ngắn nếu xảy ra sự cố.

Gần 30 triệu trẻ em Mỹ đang được ăn trưa miễn phí hoặc giảm giá tại trường học. Nghiên cứu của trường Y khoa Tufts đã xem xét chế độ ăn uống của người Mỹ từ năm 2003 đến năm 2018 và phát hiện ra rằng bữa ăn ở trường là nơi cung cấp nguồn thực phẩm lành mạnh nhất, đặc biệt khi so sánh với bữa trưa ở nhà hàng, nơi được cho là có những bữa ăn kém lành mạnh.

Theo công bố của JAMA, tạp chí y học nổi tiếng nước Mỹ cho rằng, bữa trưa tại trường học có thể coi là bữa ăn lành mạnh nhất mà trẻ em Mỹ ăn trong ngày.

Điểm đáng chú ý là ở cả hai quốc gia, hệ thống không chỉ dừng ở kiểm soát mà còn có cơ chế loại trừ: nhà cung cấp vi phạm có thể bị loại khỏi chuỗi cung ứng, không có cơ hội quay lại bằng cách “đổi tên” hay hợp thức hóa giấy tờ.

Minh bạch thông tin cũng là nguyên tắc bắt buộc, cho phép phụ huynh và xã hội tham gia giám sát thực chất, không phụ thuộc hoàn toàn vào cơ quan quản lý.

Đặt trong tương quan với thực tế tại Thái Nguyên hay Hà Nội, vấn đề của Việt Nam không nằm ở việc thiếu quy định. Ngay trong Luật An toàn thực phẩm, nguyên tắc đã rất rõ: tổ chức, cá nhân sản xuất – kinh doanh phải chịu trách nhiệm đối với thực phẩm của mình và việc quản lý phải dựa trên phân tích nguy cơ xuyên suốt toàn bộ chuỗi.

Nhưng khi quy trình có thể bị bẻ cong bởi lợi ích, khi trách nhiệm không được truy đến cùng, thì dù có đủ quy định, hệ thống vẫn có thể bị vô hiệu hóa. Và đó chính là điểm mà Nhật Bản và Hoa Kỳ đã giải quyết từ gốc: không để sai phạm có cơ hội tồn tại trong hệ thống, chứ không phải chờ phát hiện sau khi đã xảy ra.

Xuân Đức

tin mới cập nhật