“Nước lấy dân làm gốc…Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Thứ hai, 26/01/2026 - 06:41 (GMT+7)
TCVM - Trong Văn kiện Đại hội XIV khi “Dân là gốc” không chỉ được nhắc lại như một nguyên lý tư tưởng, mà được gắn trực tiếp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Dân là gốc, thước đo cao nhất của mọi quyết sách
Trong suốt hơn 1.000 năm đấu tranh chống xâm lược thời kỳ Bắc thuộc đã minh chứng vai trò, sức mạnh to lớn của nhân dân.
Nhận thức được điều đó, nhiều triều đại phong kiến đã dựa vào dân, tin dân, thương yêu nhân dân để xây dựng đất nước. Thời kỳ Lý - Trần, Vua Lý Thái Tổ đã thực hiện xá thuế cho dân, không phải để cứu trợ trong hoàn cảnh khó khăn do thiên tai mà thể hiện sự cảm thông với cuộc sống vất vả của dân.
Lý Thường Kiệt yêu cầu phải khoan hòa giúp đỡ trăm họ, yêu mến, quan tâm đến sự no ấm của dân, phải nuôi dưỡng người già nơi thôn dã: “Làm việc cốt tránh phiền dân.
Sai khiến dân, cốt khuyên nhủ dân vui theo… Đem bụng khoan thư cứu dân, lấy lòng nhân ái yêu dân…Lấy no đủ làm nguyện vọng của dân, coi việc cày cấy làm gốc của nước…”.
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn luôn căn dặn “chúng chí thành thành”, “khoan thư sức dân” là thượng sách để giữ nước. Vua Trần Minh Tông động lòng thương xót trước sự nghèo khổ của nhân dân: “Hết thảy sinh dân đều là đồng bào của ta, nỡ lòng nào để cho bốn bể khốn cùng”.
Sau mỗi cuộc kháng chiến giành độc lập cho dân tộc, các triều đại thường hạn chế việc huy động sức dân vào việc phu phen, tạp dịch mà tập trung sức dân để khôi phục kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, tạo cơ sở huy động sức người, sức của khi đất nước lâm nguy.
Yêu nước, thương dân, quan tâm đến nguyện vọng, đời sống của nhân dân cũng là mục tiêu chính trị nhằm cứu nước, an dân của Nguyễn Trãi - Người “suốt đời mang một hoài bão lớn: làm gì cho dân, người dân lầm than khổ cực”.
Ông luôn chủ trương phải yêu nuôi nhân dân để cho các làng mạc không có tiếng oán giận than sầu, không được sưu cao thuế nặng mà phải chăm lo đến cái ăn, cái học của dân.
Kế thừa và phát huy truyền thống yêu dân, an dân giữ nước của cha ông ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 để làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi lầm than, áp bức.
Trong suốt hơn 95 năm Đảng ra đời đã luôn mang trong mình yếu tố dân tộc, đồng hành cùng Nhân dân, Nhân dân đi theo Đảng, Đảng vì Nhân dân, tạo nên ý Đảng - lòng dân, trường tồn phát triển.
Ngày 5/4/1948, trong lúc nhân dân cả nước đang thi đua lập công chống thực dân Pháp xâm lược, Người viết bài “6 điều nên làm và 6 điều không nên làm”, khẳng định “Nước lấy dân làm gốc…Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng trong mọi công việc, Đảng, Nhà nước đã xác định “dân là gốc” thì “đừng có làm điều gì trái ý dân”, “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”.
Dân là chủ, là gốc, thì Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên phải phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”.
Khẳng định Đảng là Đảng lãnh đạo, nhưng lãnh đạo không có nghĩa là “ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống các địa phương kiểm tra công tác”, mà “lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”. Bằng cách cắt nghĩa đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng… Xa quần chúng là hỏng, cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đầy tớ cho quần chúng”.
Làm “đầy tớ nhân dân” với ý nghĩa cao đẹp nhất là phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, đem lại hạnh phúc cho Nhân dân, làm cho Nhân dân hài lòng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không học hỏi nhân dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”.
Trong lịch sử chính trị hiện đại Việt Nam, hiếm có tư tưởng nào duy trì được tính xuyên suốt, khả năng thích ứng và sức sống thực tiễn lâu dài như quan điểm “Dân là gốc”.
Việc Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xác lập “Dân là gốc” như tư tưởng chỉ đạo trung tâm không chỉ mang ý nghĩa kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn phản ánh một nỗ lực tự điều chỉnh có ý thức của Đảng cầm quyền trong bối cảnh cấu trúc xã hội, nền kinh tế thị trường và quan hệ nhà nước – xã hội đang biến đổi sâu sắc.
Để đánh giá một cách khoa học, tư tưởng này cần được đặt trong khung phân tích chính trị học hiện đại, đặc biệt là các lý thuyết về tính chính danh quyền lực, huy động nguồn lực xã hội và giới hạn thể chế của quyền lực cầm quyền.
Xét về nền tảng lý luận, “Dân là gốc” không phải là một mệnh đề mang tính cảm tính hay đạo đức chính trị đơn thuần. Trong truyền thống phương Đông, tư tưởng “dân vi bản” từng xuất hiện từ rất sớm nhưng thường bị giới hạn trong mô hình quân chủ, nơi dân là đối tượng được bảo hộ hơn là chủ thể chính trị.
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã tạo ra bước ngoặt khi xác lập quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là nguồn gốc thực chất của mọi hình thức quyền lực xã hội (Marx and Engels 1970).
Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển và thực tiễn hóa tư tưởng này trong điều kiện Việt Nam, coi nhân dân không chỉ là lực lượng cách mạng mà còn là nền tảng chính danh của Đảng cầm quyền.
Trong tác phẩm Dân vận năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết rõ: “Nước lấy dân làm gốc. Gốc có vững thì cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh 2011).
Cách diễn đạt giản dị này thực chất hàm chứa một quan niệm quyền lực rất hiện đại: quyền lực chính trị không thể tồn tại bền vững nếu tách rời khỏi sự ủng hộ và tham gia của nhân dân. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng đưa ra một tiêu chuẩn đánh giá quyền lực mang tính thực chứng khi khẳng định: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm. Việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh” (Hồ Chí Minh 2011).
Đây chính là một cách tiếp cận sớm về quản trị dựa trên kết quả và trách nhiệm giải trình của người cầm quyền.
Tinh thần đó được tái khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIV khi “Dân là gốc” không chỉ được nhắc lại như một nguyên lý tư tưởng, mà được gắn trực tiếp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Sự gắn kết này cho thấy một sự dịch chuyển đáng chú ý: từ việc coi “dân” chủ yếu là đối tượng vận động chính trị sang việc coi nhân dân là chủ thể tham gia, giám sát và đánh giá hoạt động của bộ máy quyền lực.
Việc nhấn mạnh vai trò trung tâm của nhân dân là điều kiện then chốt để duy trì tính chính danh trong các hệ thống chính trị không dựa trên cạnh tranh đa đảng.
Max Weber chỉ ra rằng quyền lực chỉ bền vững khi được xã hội thừa nhận là chính đáng (Weber 1978). Trong trường hợp Việt Nam, nơi Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo duy nhất, tính chính danh không thể chỉ dựa vào lịch sử cách mạng, mà phải được tái tạo liên tục thông qua hiệu quả quản trị và mức độ đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Do đó, “Dân là gốc” vừa là nền tảng tư tưởng, vừa là yêu cầu thực tiễn của mô hình cầm quyền.
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, mọi thắng lợi mang tính bước ngoặt đều gắn liền với việc phát huy vai trò chủ động của nhân dân, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đến công cuộc Đổi mới từ năm 1986.
Ngược lại, những giai đoạn khó khăn, trì trệ hoặc suy giảm niềm tin xã hội thường xuất hiện khi mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân bị gián đoạn, khi tiếng nói và lợi ích của người dân không được phản ánh đầy đủ trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách.
Điều này cho thấy “Dân là gốc” không phải là một chân lý tự vận hành, mà là một nguyên lý chỉ phát huy hiệu lực khi được thể chế hóa.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh nội hàm quản trị của tư tưởng này. Trong các phát biểu và bài viết chính luận được công bố chính thức, Tổng bí thư Tô Lâm khẳng định rằng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị phải “xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, và chịu sự giám sát của nhân dân”.
Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đặt ra một vấn đề chạm đến trái tim và thôi thúc hành động trong mọi tầng lớp nhân dân: “Mỗi đại biểu dự Đại hội, mỗi cán bộ, đảng viên trên cả nước, khi nghiên cứu Văn kiện, hãy tự hỏi: Việc này có lợi gì cho dân? Có làm cho dân tin hơn không? Có làm cho cuộc sống của nhân dân tốt đẹp hơn không? Có làm cho đất nước giàu mạnh hơn không? Nếu câu trả lời chưa rõ, phải tiếp tục hoàn thiện, bởi mọi quyết sách chỉ có ý nghĩa khi được nhân dân đồng tình, ủng hộ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân”.
Cách tiếp cận này cho thấy “Dân là gốc” được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với kiểm soát quyền lực và phòng, chống suy thoái trong nội bộ hệ thống cầm quyền.
Đáng chú ý, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng thẳng thắn chỉ ra nguy cơ xa dân như một thách thức mang tính sống còn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.
Việc coi nhẹ tiếng nói của nhân dân, để cán bộ “đứng trên dân, đứng ngoài dân” không chỉ làm suy giảm hiệu quả quản trị, mà còn bào mòn tính chính danh của quyền lực cầm quyền.
Đây là sự nhận diện rõ ràng về nguy cơ khủng hoảng niềm tin – một hiện tượng phổ biến trong nhiều hệ thống chính trị đương đại.
Việc trong Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh và làm mới tư tưởng “Dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIV lại thể hiện một đặc điểm tiến bộ đáng chú ý.
Khả năng tự nhận diện những nguy cơ như quan liêu, tham nhũng, lợi ích nhóm và sự xa rời nhân dân cho thấy một nỗ lực điều chỉnh nhằm duy trì tính thích ứng của hệ thống cầm quyền.
Theo quan điểm của North, Wallis và Weingast, khả năng tự cải cách là một điều kiện quan trọng để bảo đảm sự ổn định lâu dài của trật tự chính trị (North, Wallis, and Weingast 2009).
Có thể khẳng định rằng, trong bối cảnh lịch sử và bước vào kỷ nguyên của Việt Nam, “Dân là gốc” là một tư tưởng tiến bộ.
Tính tiến bộ của nó nằm ở chỗ đặt ra giới hạn đạo lý và chính trị đối với quyền lực, buộc Đảng cầm quyền phải liên tục tự vấn về mối quan hệ với xã hội.
Tuy nhiên, như Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh và như Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định, giá trị của tư tưởng này không nằm ở lời tuyên bố, mà ở mức độ người dân thực sự cảm nhận được vai trò chủ thể của mình trong đời sống chính trị – xã hội.
Như vậy có thể khẳng định việc Văn kiện Đại hội XIV tái khẳng định “Dân là gốc” không chỉ là sự tiếp nối truyền thống, mà còn là một yêu cầu sống còn đối với tính chính danh và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Đây là một tư tưởng có giá trị phổ quát, tương thích với các lý thuyết hiện đại về quyền lực, quản trị và phát triển bền vững, nhưng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những cải cách thể chế cụ thể, có thể kiểm chứng bằng trải nghiệm thực tế của nhân dân.
Tài liệu tham khảo (Chicago Author–Date)
Gainsborough, Martin. 2010. Vietnam: Rethinking the State. London: Zed Books.
Hồ Chí Minh. 2011. Toàn tập. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
Marx, Karl, and Friedrich Engels. 1970. The German Ideology. New York: International Publishers.
North, Douglass C., John Joseph Wallis, and Barry R. Weingast. 2009. Violence and Social Orders. Cambridge: Cambridge University Press.
Tô Lâm. 2024. Một số vấn đề về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
Weber, Max. 1978. Economy and Society. Berkeley: University of California Press.
Lại Duy Cường