85 năm Bác Hồ về nước năm 1941 và giá trị bền vững của tư duy “dân là gốc” nhìn từ Đại hội XIV
Thứ tư, 28/01/2026 - 06:57 (GMT+7)
TCVM - Trong lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại, sự kiện Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc ngày 28/1/1941 thường được trình bày như một cột mốc mở đầu cho giai đoạn lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc.

Bác Hồ về thăm lại Cao Bằng, năm 1961. Ảnh tư liệu
Nhạy cảm thiên tài trong lựa chọn thời điểm
Sau 85 năm, có thể khẳng định lựa chọn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ mang tính đúng đắn chiến thuật, mà còn phản ánh năng lực dự báo chiến lược đặc biệt hiếm có, đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo trưởng thành vượt bậc, để từ một phong trào thuộc địa trở thành một trong những trường hợp thành công tiêu biểu nhất của thế kỷ XX.
Ngược dòng lịch sử, từ giữa thập niên 1930, Nguyễn Ái Quốc hoạt động chủ yếu trong hệ thống Quốc tế Cộng sản. Giai đoạn 1934–1938, ông làm việc và học tập tại Liên Xô, tham gia các hội nghị về phong trào thuộc địa và đào tạo cán bộ.
Tài liệu lưu trữ Comintern cho thấy Nguyễn Ái Quốc không bị gạt khỏi trung tâm quyền lực, mà vẫn được xem là một cán bộ có hiểu biết sâu sắc về Đông Dương.
Từ năm 1938, Người chuyển sang hoạt động tại Trung Quốc, trước hết ở Côn Minh, Quế Lâm, sau đó là Tĩnh Tây (Quảng Tây).
Giáo sư William J. Duiker nhấn mạnh rằng sự dịch chuyển này mang ý nghĩa chiến lược rõ ràng: Nguyễn Ái Quốc chủ động đặt mình vào không gian địa–chính trị sát Đông Dương, để vừa theo dõi tình hình trong nước, vừa quan sát sự biến động của trật tự khu vực do chiến tranh Trung–Nhật và Thế chiến II tạo ra.
Điều đáng chú ý, Nguyễn Ái Quốc không trở về Việt Nam ngay khi có điều kiện địa lý, cho thấy Người không hành động theo cảm xúc cá nhân hay nhu cầu biểu tượng, mà theo một đánh giá chính trị có tính toán dài hạn.
Cùng với đó, giai đoạn Mặt trận Bình dân Pháp (1936–1939) từng tạo ra một không gian chính trị tương đối cởi mở cho phong trào cách mạng Đông Dương.
Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc nhìn nhận đây chỉ là sự nới lỏng mang tính kỹ thuật, không làm thay đổi bản chất của bộ máy cai trị thuộc địa.
Trong các phân tích gửi Quốc tế Cộng sản, Người chỉ ra rằng dù chính sách có mềm hơn, quân đội, cảnh sát và cơ chế đàn áp vẫn còn nguyên vẹn, trong khi phong trào quần chúng chưa được tổ chức thành một lực lượng chính trị thống nhất có khả năng giành và giữ chính quyền.
Việc trở về trong giai đoạn này, theo cách nhìn của Nguyễn Ái Quốc, có nguy cơ lặp lại bi kịch của cao trào 1930–1931: bùng nổ sớm, thiếu căn cứ địa, nhanh chóng bị đàn áp.
Quyết định không trở về trong giai đoạn 1936–1939 vì thế là một biểu hiện của tư duy chiến lược, chứ không phải sự do dự.
Đầu năm 1941, cấu trúc quyền lực ở Đông Dương bước vào trạng thái đứt gãy chưa từng có. Sau thất bại của Pháp trước Đức (6/1940), chính quyền bảo hộ tại Đông Dương mất nghiêm trọng tính chính danh.
Đồng thời, sự hiện diện quân sự của Nhật Bản tạo ra một tình trạng chồng lấn chủ quyền, trong đó không thế lực nào nắm quyền kiểm soát tuyệt đối.
Giáo sư David G. Marr (Đại học California, Berkeley) gọi giai đoạn này là một “khoảng trống quyền lực lịch sử”, nơi trật tự cũ suy yếu nhưng trật tự mới chưa hình thành.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận diện chính xác rằng đây là thời điểm hiếm hoi để một lực lượng bản địa có thể chuyển từ bị động sang chủ động định hình cục diện.
Việc trở về đầu năm 1941 vì thế thể hiện một năng lực dự báo chiến lược xuất sắc: không quá sớm để bị tiêu diệt, không quá muộn để đánh mất thời cơ. Đây là điểm then chốt khiến nhiều học giả phương Tây coi năm 1941 là thời điểm “xoay trục” của cách mạng Việt Nam.
Lựa chọn Cao Bằng, tầm nhìn chiến lược vĩ đại của nhà các mạng
Trước hết, Cao Bằng là tỉnh miền núi có đường biên giới với Trung Quốc dài hơn 333km, vừa có đường bộ, đường thủy sang Trung Quốc nên rất thuận lợi cho giao thông liên lạc.
Từ Cao Bằng còn có các tuyến đường bộ đi xuống Lạng Sơn, Thái Nguyên. Với địa thế hiểm trở, Cao Bằng là địa phương mà thực dân Pháp khó kiểm soát. Từ Cao Bằng, khi lực lượng cách mạng phát triển, cơ sở Việt Minh mở rộng có thể nhanh chóng “Đông tiến” xuống Lạng Sơn, “Nam tiến” xuống Thái Nguyên, “Tây tiến” sang Hà Giang, Tuyên Quang... đến các tỉnh vùng trung du, Đồng bằng Bắc Bộ.
Về mặt địa thế, địa hình, kinh tế, quân sự, Cao Bằng có đủ điều kiện đáp ứng hai yếu tố “thiên thời” và “địa lợi”, trở thành một trong những bàn đạp chiến lược đầu tiên của thời kỳ khởi nghĩa vũ trang. Song yếu tố quan trọng góp phần đi đến quyết định lựa chọn Cao Bằng để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước là “Cao Bằng có phong trào tốt từ trước”, là nơi sinh sống của nhiều đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Hoa, Lô Lô,...
Từ xưa đến nay, các dân tộc luôn đoàn kết, gắn bó với nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Từ ngày có Đảng, đồng bào các dân tộc Cao Bằng luôn một lòng theo Đảng, không ngừng đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Đến năm 1935, nhiều tổ chức “Cộng sản đoàn”, “Công hội đỏ”, “Nông hội đỏ”, “Hội bản”, “Hội làng”... được thành lập tại nhiều nơi ở Cao Bằng.
Vì vậy, Cao Bằng không những có điều kiện thuận lợi cho việc duy trì, phát triển phong trào cách mạng mà còn có “hàng rào quần chúng” bảo vệ vững chắc.
Việc lãnh đạo Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Cao Bằng – cụ thể là Pác Bó – làm điểm trở về đầu tiên càng cho thấy chiều sâu thao lược của ông. Cao Bằng không chỉ là vùng núi hiểm trở, mà là một không gian hoạt động chính mang tính chiến lược.
Thứ nhất, về địa–quân sự, hệ thống núi non và các trục đèo như Đèo Giàng, Đèo Gió tạo ra chiều sâu phòng thủ tự nhiên, đặc biệt trong điều kiện giao thông lạc hậu đầu thập niên 1940.
Thứ hai, về xã hội, Cao Bằng có truyền thống đấu tranh và cấu trúc cộng đồng thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở quần chúng.
Thứ ba, về chiến lược, vị trí giáp Trung Quốc cho phép duy trì liên lạc quốc tế, đồng thời mở ra khả năng mở rộng căn cứ xuống Bắc Thái và Việt Bắc.
Lãnh tụ Hồ Chí Minh không coi Cao Bằng là nơi “ẩn náu”, mà là hạt nhân để xây dựng một trung tâm lãnh đạo cách mạng bền vững.
Điều này được thể hiện rõ trong việc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), nơi xác lập đường lối đặt giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Giáo sư William J. Duiker đánh giá rằng lựa chọn này phản ánh một tư duy “xây dựng quyền lực từ ngoại vi vào trung tâm”, khác căn bản với các mô hình khởi nghĩa bộc phát vốn thất bại ở nhiều thuộc địa khác.²
Khi đặt lựa chọn thời điểm năm 1941 và lựa chọn không gian Cao Bằng trong cùng một chỉnh thể phân tích, có thể khẳng định rằng Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện một bước nhảy chiến lược mang tính quyết định. Từ đây, cách mạng Việt Nam không còn là phản ứng thụ động trước biến động quốc tế, mà trở thành một chủ thể chính trị có khả năng tự định hình vận mệnh.
Trong lịch sử thế kỷ XX, rất ít phong trào thuộc địa thành công trong việc kết hợp giải phóng dân tộc với xây dựng một nhà nước hiện đại. Các học giả như Benedict Anderson và Christopher Goscha đều coi Việt Nam là một trường hợp đặc biệt, nơi ý thức dân tộc được tổ chức thành sức mạnh chính trị hiệu quả.
Hai lựa chọn năm 1941 chính là nền móng cho sự trưởng thành đó.
Từ năm 1941 đến hiện tại, sự tiếp nối tư tưởng và Đại hội XIV
Từ Cao Bằng, Người đã trực tiếp lãnh đạo và đưa phong trào cách mạng Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới, triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (ngày 10-19/5/1941).
Hội nghị đã xác định đúng đắn đường lối giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị mọi điều kiện cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Những thắng lợi đó đã đặt nền móng tư tưởng, chính trị và tổ chức cho toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam; là cơ sở để ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Có thể khẳng định sự kiện Bác Hồ về nước là kết tinh cao đẹp của khát vọng độc lập dân tộc, của trí tuệ, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược; là nguồn khởi phát trực tiếp cho những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ông Phan Thăng An, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng cho rằng, trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc.
"Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng luôn đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, từng bước vươn lên phát triển. Từ một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, Cao Bằng đang tích cực khai thác tiềm năng, lợi thế, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh; đồng thời bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa - lịch sử cách mạng, trong đó có Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó - một “địa chỉ đỏ” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau”, ông Phan Thăng An nhấn mạnh.
Văn kiện Đại hội XIV, với việc tái nhấn mạnh quan điểm “dân là gốc” và yêu cầu chủ động thích ứng trong một trật tự thế giới đang tái cấu trúc, cho thấy sự tiếp nối logic tư tưởng Hồ Chí Minh, chứ không phải sự lặp lại hình thức.
Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã nhiều lần nhấn mạnh nội hàm quản trị của tư tưởng này. Trong các phát biểu và bài viết chính luận được công bố chính thức, ông khẳng định rằng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị phải “xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, và chịu sự giám sát của nhân dân” (Tô Lâm 2024).
Cách tiếp cận này cho thấy “Dân là gốc” được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với kiểm soát quyền lực và phòng, chống suy thoái trong nội bộ hệ thống cầm quyền.
Đáng chú ý, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng thẳng thắn chỉ ra nguy cơ xa dân như một thách thức mang tính sống còn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.
Điều này củng cố thêm nhận định rằng tầm vóc của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ nằm ở những thắng lợi lịch sử, mà ở khả năng kiến tạo một hệ tư tưởng đủ bền vững để dẫn dắt quốc gia qua nhiều thế hệ.
Quyết định trở về Việt Nam đầu năm 1941 và lựa chọn Cao Bằng làm điểm khởi phát cách mạng là hai lựa chọn chiến lược mang tính thiên tài của Nguyễn Ái Quốc. Chúng không chỉ dẫn tới thắng lợi năm 1945, mà còn đặt nền móng cho sự trưởng thành vượt bậc của Việt Nam như một trong những dân tộc có ảnh hưởng sâu sắc nhất trong lịch sử giải phóng thuộc địa thế kỷ XX.
Từ Pác Bó nhìn ra thế giới, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc không chỉ thấy con đường giành độc lập, mà còn nhìn thấy khả năng để Việt Nam bước vào trật tự quốc tế với tư cách một quốc gia có bản lĩnh, chủ quyền và tiếng nói riêng.
· Tài liệu tham khảo
1. Pierre Brocheux, Ho Chi Minh: A Biography (Cambridge: Cambridge University Press, 2007), 120–145.
2. William J. Duiker, Ho Chi Minh: A Life (New York: Hyperion, 2000), 243–305.
3. Hồ Chí Minh, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, 1999), 312–320.
4. David G. Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power (Berkeley: University of California Press, 1995), 30–52.
5. Stein Tønnesson, Vietnam 1946: How the War Began (Berkeley: University of California Press, 2010), 12–18.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, 2000), 112–130.
7. Benedict Anderson, Imagined Communities (London: Verso, 2006), 141–162.
8. Christopher Goscha, Vietnam: A New History (New York: Basic Books, 2016), 93–118.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2026).
Lại Duy Cường