Từ “bung ra sản xuất” đến Đại hội VI: Bước ngoặt của đổi mới tư duy
Thứ hai, 26/01/2026 - 10:44 (GMT+7)
TCVM - Hội nghị Trung ương 6 khóa IV và Đại hội VI không phải là những quyết định mang tính thời điểm, mà là kết quả của cả một quá trình tích lũy từ thực tiễn và đổi mới tư duy lý luận.
Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhận định, chính những đột phá về nhận thức, thể chế và đối ngoại trong giai đoạn này đã phá vỡ thế cấm vận, mở đường cho mô hình phát triển mới, đặt nền móng cho kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những bước đi chiến lược của Việt Nam đến hôm nay.
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV và Đại hội VI không phải là những quyết định mang tính thời điểm, mà là kết quả của cả một quá trình tích lũy từ thực tiễn và đổi mới tư duy lý luận. Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhận định, chính những đột phá về nhận thức, thể chế và đối ngoại trong giai đoạn này đã phá vỡ thế cấm vận, mở đường cho mô hình phát triển mới, đặt nền móng cho kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những bước đi chiến lược của Việt Nam đến hôm nay.
Từng bước hình thành tư duy mới về phát triển kinh tế
Phóng viên: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV thường được xem là dấu mốc “bật đèn xanh” cho sản xuất bung ra. Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa lịch sử và điểm đột phá quan trọng nhất của Hội nghị Trung ương 6 khóa IV trong tiến trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Về mặt lý luận, Đại hội VI đã xác định rất rõ con đường phát triển của đất nước trong bối cảnh mới, đồng thời dự báo được những biến động lớn của tình hình địa-chính trị thế giới. Tinh thần xuyên suốt là phải tự lực, tự cường, “tự đem sức ta giải phóng cho ta”, đúng như tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu ra từ những năm 1944–1945.
Đột phá quan trọng nhất của Đại hội VI chính là đổi mới tư duy. Đổi mới diễn ra trong toàn bộ hệ thống chính trị, từ cơ sở đến Trung ương: cơ sở vận dụng nghị quyết để làm, Trung ương tổng kết thực tiễn để ban hành nghị quyết mới. Ngay từ Nghị quyết Trung ương 9 khóa IV về bung ra sản xuất, đến Đại hội V năm 1982, Đảng vẫn kiên trì tinh thần đổi mới, hình thành các chính sách quan trọng như cải cách giá-lương-tiền.
Trong quá trình đó đã xuất hiện ba mô hình đổi mới tiêu biểu. Thứ nhất là mô hình khoán trong nông nghiệp, khởi đầu từ những điểm nhỏ ở Vĩnh Phú, sau đó được thể chế hóa bằng Chỉ thị 100 năm 1981, tạo điều kiện cho Hải Phòng phát triển mạnh. Khi đó, nhà thơ Tố Hữu – trên cương vị Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng – đã sớm nhận ra sức sống của mô hình này và khái quát bằng những vần thơ nổi tiếng về sự đổi thay của Hải Phòng.
Thứ hai là mô hình Long An do đồng chí Chín Cần khởi xướng, tập trung vào cải cách khâu phân phối và lưu thông. Với cùng một lượng hàng hóa, nhưng đổi mới phương thức phân phối, vận hành nền kinh tế theo tư duy mới, không rập khuôn mô hình kế hoạch hóa tập trung kiểu Liên Xô.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân.
Thứ ba là mô hình của Thành phố Hồ Chí Minh, với việc liên kết công-tư để khôi phục sản xuất, trước hết là sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Thành phố đã tận dụng đội ngũ tư sản, đặc biệt là tư sản Hoa kiều, để nhập nguyên liệu, tổ chức sản xuất, tạo nguồn hàng cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Mô hình này đã phá vỡ nhiều rào cản của cơ chế kế hoạch hóa cứng nhắc, đem lại những bài học rất quý báu.
Từ thực tiễn đó, có thể rút ra ba bài học lớn. Một là, phải phát huy mọi thành phần kinh tế, mọi nguồn lực của đất nước, nhất là trong bối cảnh bị cấm vận và gặp nhiều khó khăn; hai là, phải bảo đảm đời sống nhân dân, nhất là lương thực, thực phẩm cho các đô thị lớn; ba là, góp phần thay đổi nhận thức của toàn xã hội về vai trò của kinh tế tư nhân trong mối quan hệ với kinh tế nhà nước.
Chính những thành công và cả những hạn chế cụ thể từ thực tiễn này đã thuyết phục được các nhà lý luận của Đảng, đứng đầu là cố Tổng Bí thư Trường Chinh. Tại Hội nghị Đà Lạt, ông đã trực tiếp lắng nghe các doanh nghiệp báo cáo, từ đó khái quát, chuyển hóa thực tiễn sinh động thành lý luận đổi mới. Đó chính là sự kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, là nền tảng quan trọng làm nên thành công của Đại hội VI.
Phóng viên: Thưa ông, nhìn lại quá trình dẫn tới Đại hội VI, có thể thấy tư duy đổi mới không xuất hiện một cách đột ngột. Ông có thể phân tích rõ hơn bối cảnh và những tiền đề quan trọng hình thành nên đường lối đổi mới của Đảng ta?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Đại hội VI không phải là kết quả ngẫu nhiên, mà là sự kết tinh của cả một quá trình tích lũy lâu dài từ thực tiễn. Ngay từ cuối thập niên 1970 của thế kỷ XX, đất nước ta vừa thống nhất chưa lâu đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn: chiến tranh bảo vệ biên giới ở cả hai đầu Bắc và Tây Nam, nền kinh tế kiệt quệ, lại bị bao vây, cấm vận.
Trong bối cảnh đó, tại Đại hội IV, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 9 khóa IV năm 1979, Đảng đã chủ trương “bung ra sản xuất”, xác định nông nghiệp và công nghiệp tiêu dùng là hai hướng đột phá. Đây chính là “cái gậy chỉ đường” để các tổ chức Đảng, các địa phương mạnh dạn tìm tòi, đổi mới trong những năm tiếp theo. Thực tiễn sinh động ở các địa phương như Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Văn Linh đã tạo ra nhiều đột phá quan trọng, trở thành cơ sở để Đảng tổng kết, nâng lên thành lý luận.
Lịch sử cho thấy, mọi thắng lợi lớn đều cần quá trình tích lũy. Như chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đó không phải là điều tự nhiên mà có, mà là kết quả của cả một chuỗi chiến dịch từ Việt Bắc, Biên giới, đến Tây Bắc. Theo quan điểm duy vật biện chứng, lượng phải tích đủ thì mới chuyển hóa thành chất. Đại hội VI cũng vậy: mầm mống đổi mới đã có từ trước, nhưng phải thông qua thực tiễn phong phú thì mới hình thành được cơ sở lý luận vững chắc.
Thành công lớn nhất của Đại hội VI là đã xác lập được mô hình phát triển mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn từ từng ngành, từng địa phương, từng lĩnh vực, sau đó nâng lên thành lý luận và cuối cùng được khẳng định trong Cương lĩnh năm 1991. Đó là một quá trình phát triển có tính lịch sử, không hề ngẫu nhiên.
Phóng viên: Về mặt kinh tế, tư duy đổi mới của Đảng từ Đại hội VI được thể hiện như thế nào trong quá trình hoàn thiện thể chế?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Ngay từ Đại hội V và đặc biệt là Đại hội VI, Đảng đã từng bước hình thành tư duy mới về phát triển kinh tế. Chúng ta chấp nhận nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần cùng phát triển, trong đó có kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Quan trọng hơn, Đảng đã nhận thức rõ cần tôn trọng lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, cũng như các chủ thể khác trong nền kinh tế. Từ nhận thức đó, năm 1987-1988, một loạt luật quan trọng được ban hành, chuyển các nghị quyết của Đảng thành quy phạm pháp luật. Đây là bước đi có ý nghĩa then chốt trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, bởi nghị quyết của Đảng là để định hướng cho Đảng viên, còn luật pháp là để toàn dân và xã hội thực hiện.
Việc ban hành sớm các đạo luật này đã tạo ra niềm tin rất lớn cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước và thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế nhà nước còn hạn chế về nguồn lực, chúng ta phát triển nền kinh tế bằng “hai chân” còn lại là kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Đến nay, cấu trúc “kiềng ba chân” của nền kinh tế đã hình thành tương đối vững chắc, trong đó kinh tế nhà nước chiếm khoảng 30% GDP, còn khu vực tư nhân và FDI đóng góp trên 60%, phù hợp với định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đến nay, cấu trúc “kiềng ba chân” của nền kinh tế đã hình thành tương đối vững chắc, trong đó kinh tế nhà nước chiếm khoảng 30% GDP, còn khu vực tư nhân và FDI đóng góp trên 60%, phù hợp với định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
Phóng viên: Nhìn lại từ Đại hội VI năm 1986 đến nay, ông đánh giá đâu là bài học lớn nhất trong việc nắm bắt thực tiễn và hoàn thiện thể chế phát triển đất nước?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Bài học lớn nhất là chúng ta luôn bám sát thực tiễn, giữ vững lập trường tư tưởng, từ đó có những dự báo tương đối chính xác và cách ứng xử phù hợp. Có thể nói một cách tự hào rằng, ngay trong nhiệm kỳ Đại hội VI đã xuất hiện những đột phá chiến lược rất lớn, không chỉ về kinh tế mà cả về đối ngoại và thể chế.
Một trong những quyết định có ý nghĩa lịch sử là năm 1989, Việt Nam chủ động giải quyết vấn đề Campuchia, chấm dứt một điểm nóng kéo dài, tạo điều kiện để đất nước thoát khỏi thế bị cô lập, bao vây. Đây là quyết định đối ngoại rất bản lĩnh, dựa trên thực tế là bạn đã đủ khả năng tự ổn định và tự bảo vệ chính quyền của mình.
Cùng với đó, Việt Nam chủ động bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc thông qua Hội nghị Thành Đô. Hai đột phá này đã phá vỡ thế cấm vận và cô lập về kinh tế, đối ngoại, đồng thời phù hợp với bối cảnh quốc tế khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ năm 1990 và Liên Xô tan rã năm 1991. Nếu chúng ta không chủ động từ năm 1989, thì khi trật tự thế giới thay đổi đột ngột, nguy cơ mất ổn định đất nước là rất lớn.
Các nghị quyết hướng tới xây dựng một thể chế phát triển ổn định, bền vững trong dài hạn
Phóng viên: Các Nghị quyết của Bộ Chính trị ban hành là một hệ thống chiến lược tổng thể cho phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam? Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của các Nghị quyết do Bộ Chính trị ban hành thời gian gần đây, trong mối liên hệ với các Nghị quyết của Trung ương và văn kiện Đại hội XIV?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Theo Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Bộ Chính trị là sự kế thừa, cụ thể hóa và phát triển các nghị quyết đã được Ban Chấp hành Trung ương ban hành. Có thể thấy rất rõ tính liên thông này: Nghị quyết 68 là sự tiếp nối Nghị quyết Trung ương 10 khóa XII; Nghị quyết 79 tiếp nối Nghị quyết Trung ương 12 khóa XII; Nghị quyết về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường là sự phát triển từ Nghị quyết Trung ương 11.
Các nghị quyết của Bộ Chính trị hiện nay là sự sơ kết 5 năm thực hiện nghị quyết Trung ương khóa XII, đồng thời chỉ ra những điểm mới, những khâu đột phá cần tập trung trong giai đoạn tới. Đặc biệt, các nghị quyết này không tách rời mà gắn chặt với dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV, nhiều nội dung đã đi trước, được thể chế hóa và sau đó sẽ được Đại hội XIV thông qua với giá trị pháp lý và chính trị cao hơn.
Phóng viên: Điểm mới nổi bật của các nghị quyết này là gì, thưa ông?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Điểm mới lớn nhất là sự kết nối hài hòa giữa quá khứ, hiện tại và định hướng cho 5 năm tới. Các Nghị quyếtcủa Bộ Chính trị vừa kế thừa những chủ trương đã được kiểm nghiệm, vừa mạnh dạn đưa ra những vấn đề trước đây còn dè dặt.
Ví dụ, trong lĩnh vực giáo dục, Nghị quyết đã nêu rất rõ chủ trương sử dụng một bộ sách giáo khoa ổn định trong nhiều năm – đây là một đột phá về tư duy quản lý. Trên thế giới, xu hướng một bộ sách giáo khoa chủ đạo trong một quốc gia là khá phổ biến, dù vẫn có không gian để địa phương linh hoạt triển khai.Cách tiếp cận này thể hiện tư duy mở nhưng có kiểm soát, tương tự mô hình của các quốc gia liên bang như Đức, nơi chương trình khung do liên bang quy định, còn địa phương có thể bổ sung nội dung giáo dục đặc thù của mình, miễn là nằm trong tổng thể chung. Điều đó cho thấy các nghị quyết hiện nay không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt mà còn hướng tới xây dựng một thể chế phát triển ổn định, bền vững trong dài hạn.
Xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên!
Theo Nhân dân