Chủ tịch Ủy ban Nobel, ông Anders Olsson ca ngợi giọng thơ tối giản của nữ thi sĩ người Mỹ, đặc biệt là những bài thơ đi vào trọng tâm của cuộc sống gia đình. Anders Olsson đánh giá giọng thơ của Louise Gluck thẳng thắn và không nhún nhường, nhưng cũng lấp lánh sự hài hước, dí dỏm.

leftcenterrightdel
 

Louise Glück sinh năm 1943 ở New York và sống ở Cambridge, Massachusetts. Bên cạnh nghề viết, nữ thi sĩ này là giáo sư dạy tiếng Anh của Đại học Yale, New Haven, Connecticut. Ngay từ nhỏ Gluck bị cuốn hút vào việc đọc và làm thơ. Nữ thi sĩ viết một số câu thơ đầu tiên khi mới 5 tuổi, quyết tâm trở thành nhà thơ khi mới ở tuổi thiếu niên. Cha mẹ bà đọc thần thoại cổ điển thay truyện kể trước giờ ngủ, vì thế Louise Gluck dường như bị các vị thần và anh hùng Hy Lạp mê hoặc. Đây cũng là những chủ đề mà sau này bà khai thác, khám phá khá dày đặc trong nhiều tác phẩm. 

Nhà thơ đương đại được yêu mến ở xứ sở cờ hoa

Louise Glück được xem là một trong những nhà thơ đương đại tài năng nhất của Mỹ. Tác phẩm của bà được chú ý bởi sự nhạy cảm, cái nhìn sâu sắc về sự cô đơn, các mối quan hệ gia đình, đau khổ, về tuổi già và cả cái chết. Tập thơ đầu tiên của bà là Firstborn (Con đầu lòng) được xuất bản năm 1968 được các nhà phê bình đón nhận nồng nhiệt, còn tác giả phải vật lộn với sự trì trệ, bế tắc nên bà nhận một vị trí giảng dạy tại Đại học Goddard ở Vermont. Quá trình đứng lớp với sinh viên thôi thúc Louise viết trở lại, bà tiếp tục xuất bản hàng chục tập thơ. Trong phần lớn thành quả lao động thơ ca, Gluck lấy cảm hứng từ nhiều nhân vật thần thoại. Trong tập thơ Meadowlands (Đồng cỏ, 1996), bà kết hợp hình ảnh của Odysseus và Penelope từ sử thi Odyssey của Homer với câu chuyện về sự tan vỡ của một cuộc hôn nhân thời hiện đại. Tác phẩm Averno lại được khơi gợi cảm hứng từ huyền thoại về Persephone. Bà thường được mô tả như nhà thơ thiên về tự truyện. Tác phẩm của bà được biết đến với cường độ cảm xúc cao về các chủ đề lịch sử hoặc thiên nhiên chứa đựng nhiều suy ngẫm về kinh nghiệm cá nhân và cuộc sống hiện đại.

leftcenterrightdel
 

Nhà phê bình kiêm nhà văn Daniel Mendelsohn, biên tập viên của tờ The New York Review of Books nhận định ngôn ngữ tự do, sự chắt lọc và việc thường xuyên sử dụng các nhân vật thần thoại quen thuộc mang đến cho thơ của Louise một cảm giác phổ quát và vượt thời gian. “Khi bạn đọc những bài thơ của bà ấy về những điều khó khăn này, bạn cảm thấy được thanh lọc hơn là chán nản”, Daniel Mendelsohn nói. Ông cũng cho rằng đây là một trong những cách cảm thụ thơ thuần túy nhất trong văn học thế giới lúc này. Nhà thơ Robert Hass đã gọi bà là “một trong những nhà thơ trữ tình thuần túy và thành công nhất hiện nay”.

Trước khi nhận giải Nobel, bà Glück đã được trao một số giải thưởng văn học uy tín trong và ngoài nước như: Giải William Carlos Williams năm 1992, giải Pulitzer cho thơ năm 1993 với tập Hoa diên vĩ dại, giải Văn chương Lannan cho thơ năm 1999, giải Bollingen năm 2001, và giải Sách Quốc gia Mỹ cho thơ năm 2014 (Đêm thủy chung và đức hạnh) và Huân chương Nhân văn Quốc gia Mỹ năm 2015.

leftcenterrightdel
 

Bà được bổ nhiệm làm "Poet Laureate" -  nhà thơ đại diện cho nước Mỹ và nền thi ca Mỹ nhiệm kỳ 2003-2004. Đây là vị trí danh dự dành cho các nhà thơ Mỹ. Người được bầu chọn sẽ viết những câu thơ vào các dịp quan trọng của đất nước trong năm. 
Đến nay, Louise Glück đã xuất bản 12 tập thơ cùng nhiều tản văn về thơ. Các tác phẩm nổi bật của bà có thể kể đến Firstborn (1968), The Triumph of Achilles (1985), Ararat (1990), The Seven Ages (2001), Faithful and Virtuous Night (2014)... Louise Glück là tác giả người Mỹ đầu tiên chiến thắng giải Nobel Văn học kể từ năm 1993 với giải thưởng thuộc về Toni Morrison. Bà cũng là nhà thơ thứ hai trong vòng hai thập kỷ qua được trao giải. Lần gần đây nhất, Nobel được trao cho một nhà thơ là năm 2011 thuộc về Tomas Tranströmer, đến từ Thụy Điển.

Nữ thi sĩ còn lạ với độc giả Việt Nam

 Louise Glück là nhà thơ có tiếng ở Mỹ dù bên ngoài nước Mỹ bà chưa được nhiều người biết đến. Thực tế thơ của Louise Gluck không phổ biến lắm ở châu Âu như tại Pháp, thơ của bà dịch rải rác trên tạp chí, nổi tiếng nhất vẫn là bài thơ Giọt tuyết- mô tả sự sống diệu kỳ trỗi dậy sau mùa đông- trích trong tập thơ Hoa diên vĩ dại. Thơ của Louise Gluck cũng chỉ được chuyển ngữ sang tiếng Đức khoảng 2007. 

leftcenterrightdel
 

Tại Việt Nam, tác phẩm của Louise Glück chưa được biết đến nhiều. Bà chỉ có một số bài thơ được in trong Tuyển tập 15 nhà thơ Mỹ thế kỷ 20, do dịch giả Hoàng Hưng và các cộng sự chuyển ngữ, Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây và Nhà xuất bản Hội nhà văn phát hành.

Theo dịch giả Hoàng Hưng, “Thơ của Louise Gluck giàu cảm xúc, tinh tế, gợi cảm và kiệm lời, thường bắt đầu bằng những cảm xúc nhức nhối về tình yêu, sự sinh nở và cái chết. Các hình ảnh của thơ hiện ra tự nhiên nhưng bất ngờ và dễ dàng đi từ một cảm nhận trực tiếp tới một từ trừu tượng”.

leftcenterrightdel
 

Nobel Văn học là 1 trong 5 giải thưởng dưới tên của nhà khoa học Alfred Nobel được trao hàng năm của Hội đồng Thụy Điển, trong đó bao gồm Nobel Hóa học, Vật lý, Hòa bình, Sinh học - Y học. Theo ý nguyện từ di chúc của Alfred Nobel, giải Nobel Văn học được trao cho những cá nhân tạo ra các tác phẩm xuất sắc trong văn chương, chứa đựng lý tưởng lớn lao.

Từ năm 1901 đến 2020, Nobel Văn học đã được trao 111 lần cho 117 cá nhân có đóng góp nhất định trong nền văn học. Trong đó, 16 người là tác giả nữ, gần đây nhất là nhà văn Ba Lan Olga Tokarczuk (2018). 

leftcenterrightdel
 

Tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ phổ biến nhất của những người chiến thắng và châu Âu vẫn là châu lục được trao giải nhiều nhất. Các nhà văn đến từ châu Á mới chỉ có bốn người từng được vinh danh là Rabindranath Tagore (Ấn Độ), Yasunari Kawabata và Kenzaburo Oe (Nhật Bản) và Mạc Ngôn (Trung Quốc).

Giải thưởng Nobel Văn học năm nay trị giá 10 triệu krona Thụy Điển (hơn 1,1 triệu USD). Lễ trao giải sẽ diễn ra ngày 10/12 tại thủ đô Stockholm của Thụy Điển.