PV: 6 năm trước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có chuyến thăm tới Mỹ. Liên quan ý nghĩa lịch sử của chuyến thăm đó, bây giờ ông nghĩ tới những chuyện gì?

PCT Hội Việt - Mỹ Bùi Thế Giang: Đây là chuyến thăm lịch sử với đầy đủ ý nghĩa của từ “lịch sử”, và có rất nhiều chuyện phản ánh tính chất quan trọng, đáng nhớ của sự kiện đó. 6 năm đã trôi qua, việc liệt kê tức thì đầy đủ những chuyện đó không phải là dễ. Nhưng nói vắn tắt, tôi chỉ xin nêu 4 chuyện.

Trước hết, đó là việc lần đầu tiên một lãnh đạo cao nhất của nước Mỹ mời nhà lãnh đạo cao nhất của một đảng cộng sản cầm quyền sang thăm chính thức nước Mỹ. Tôi nhớ đúng buổi sáng hôm 06/07/2015 đó, khi chuyên cơ đưa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hạ cánh xuống thủ đô Washington DC của Mỹ, Thượng Nghị sĩ John McCain, khi đó là Chủ nhiệm Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ, đã ra một tuyên bố, trong đó ông là người đầu tiên chính thức gọi đây là “một chuyến thăm lịch sử”.

Thứ hai, hoạt động quan trọng chính thức đầu tiên của chuyến thăm là cuộc hội đàm trong Phòng Bầu dục của Nhà trắng với sự tham dự về phía Mỹ của không chỉ Tổng thống mà của cả Phó Tổng thống Joe Biden và 3 Bộ trưởng là thành viên cao cấp Nội các gồm Cố vấn An ninh Quốc gia Susan Rice, Bộ trưởng Tài chính Jack Lew và Đại diện Thương mại Michael Froman. Đó là điều không thường xảy ra trong hội đàm của người lãnh đạo cao nhất chính quyền Mỹ với chính khách nước ngoài.

Thứ ba, ra Tuyên bố chung. Đây cũng là điều rất đặc biệt! Trước chuyến thăm, phía Mỹ đặt vấn đề có lẽ không cần ra tuyên bố chung vì trước đó hai năm, khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đi thăm Mỹ tháng 7/2013, hai bên cũng đã ra một tuyên bố chung dưới hình thức văn bản là Tuyên bố chung của hai Tổng thống, hai Chủ tịch (“Presidential Statement”). Nhưng như mọi người đều biết, chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã được đánh dấu không chỉ bằng một bản Tuyên bố chung theo nghĩa thông thường còn là một bản “Tuyên bố Tầm nhìn chung” rất trang trọng, với nội dung và ngôn từ chứa đựng nhiều điểm rất “lịch sử”. Ví dụ, ngoài việc bao gồm một câu “văn bia” được ghi trong cả mấy tuyên bố chung Việt-Mỹ những năm qua là “hai bên cam kết tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và hệ thống chính trị của nhau”, thay vì cách viết “hai nhà lãnh đạo” đã nhất trí với nhau thế này, thế kia như trong các tuyên bố chung thông thường, văn bản này sử dụng nhất quán xuyên suốt cụm từ “hai nước”, “hai quốc gia” đã nhất trí thế này thế kia… Điều đó nói lên cái gì? Nó gián tiếp nói rằng phía Mỹ công nhận Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là người cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam hay của hệ thống chính trị Việt Nam mà còn là người đại diện cho dân tộc Việt Nam và là nhà lãnh đạo cao nhất của đất nước Việt Nam.

Một điều có ý nghĩa lịch sử nữa là việc Phó Tổng thống Joe Biden chủ trì tiệc chiêu đãi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Kế hoạch ban đầu là Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Kerry chủ trì, nhưng khi hội đàm kết thúc thì người chủ trì lại chính là Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden. Và tôi tin rằng việc nâng cấp đặc biệt này không phải là ngẫu nhiên. Trong ngoại giao, không có chuyện ngẫu nhiên như vậy. Và trong suốt cuộc chiêu đãi của Phó Tổng thống Joe Biden khi đó, ông đã luôn thể hiện là một người lịch lãm, thân thiện, tế nhị, sâu sắc.

Ông vừa nhắc tới cuộc chiêu đãi. Những người theo dõi chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đều nhớ việc Phó Tổng thống Joe Biden đã lẩy Kiều và cho rằng điều đó cho thấy phía Mỹ đã dày công nghiên cứu về văn hoá Việt Nam. Ông có tán thành sự quan sát đó không?

Tháng 7/2015, sau khi chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kết thúc, tôi đã được khá nhiều người hỏi một câu tương tự. Và tôi có một câu trả lời rất cá nhân, đại để như thế này: “Tôi không nghĩ ông Biden thuộc truyện Kiều, nhưng việc ông Biden lẩy Kiều trong phát biểu chứng tỏ phía Mỹ có những người tham mưu giỏi, thiện chí, và lãnh đạo Mỹ cũng có ý chí chính trị, thiện chí và tầm nhìn để chấp nhận ý kiến tham mưu đó”. Hôm nay, tôi xin nói thêm: Không chỉ ông Joe Biden. Các Tổng thống Bill Clinton, Barack Obama và những người tham mưu của các vị ấy cũng vậy.

leftcenterrightdel
Ngày Quốc tế Nhận thức Bom mìn và Hỗ trợ Hành động Bom mìn 4/4 được Liên hợp quốc tổ chức hàng năm

Tháng 11/2000, khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton sang thăm Việt Nam, trong buổi tiệc chiêu đãi của Chủ tịch nước Trần Đức Lương khi đó, Tổng thống Bill Clinton đã lẩy Kiều. Rồi khi Tổng thống Barack Obama sang thăm Việt Nam tháng 5/2016, Tổng thống cũng lẩy Kiều.

Tròn 6 năm trước, người đứng đầu ĐCS Việt Nam đã có chuyến thăm Mỹ và được lãnh đạo và nhân dân Mỹ, trong đó có Phó Tổng thống Joe Biden, tiếp đón nồng nhiệt. Ông nghĩ sao về một chuyến công du tới Việt Nam trong thời gian tới của đương kim Tổng thống Joe Biden?

Đây là một câu hỏi rất lý thú. Nghe câu hỏi này, tôi nghĩ đến mấy việc.

Thứ nhất: Quan hệ Việt - Mỹ những năm qua đã có những bước tiến rất dài. Bà Hillary Clinton đã từng nói rằng: “Việt Nam và Mỹ là tấm gương cho thế giới về việc hai cựu thù đã trở thành bạn bè, đối tác của nhau”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi phát biểu tại Thủ đô Washington DC cũng nói một câu gần giống như vậy.

Tôi lại nhớ, sau khi ông Joe Biden tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Mỹ, ngày 30/1/2021, lãnh đạo cấp cao của chúng ta, trong đó có Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khi đó, đã gửi điện chúc mừng. Trong bức điện, Lãnh đạo ta đã mời Tổng thống Joe Biden sang thăm Việt Nam. Tôi nghĩ rằng, trong số điện mừng của nhiều lãnh đạo các nước trên thế giới gửi chúc mừng Tổng thống Joe Biden, có rất ít nước đặt vấn đề mời Tổng thống Joe Biden sang thăm nước mình. Sau đó, ngày 15/4/2021, khi tiếp Đại sứ Mỹ Daniel Kritenbrink tới chào từ biệt, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại nhắc lại lời mời này. Như vậy, lời mời chính thức đối với Tổng thống Joe Biden đã có và vẫn để ngỏ đó.

leftcenterrightdel
Ngày 18/11/2000, ông Bùi Thế Giang phiên dịch cho Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Tổng thống Mỹ Bill Clinton, tại Hà Nội

Thứ hai: Ngày 5/2/2021, tức là chỉ nửa tháng sau khi ông Joe Biden nhậm chức, đã có một cuộc điện đàm giữa Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh lúc đó với Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken. Tất nhiên, nội dung những nhà ngoại giao nói chuyện với nhau đều là chuyện quốc gia đại sự. Nhưng ngay sau cuộc nói chuyện đó, ông Antony Blinken có viết trên Tweetter của ông ấy hai câu ngắn, nhưng rất lý thú. Câu thứ nhất là: “Đã có cuộc nói chuyện đầu tiên dễ chịu với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh về cam kết của chúng tôi đối với một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do, rộng mở”. Câu thứ hai là để kết cực kỳ lý thú: “Tôi hy vọng cuộc nói chuyện tiếp theo của chúng tôi sẽ diễn ra bên một một tô phở ngon tại Hà Nội”. Cảm giác của tôi là câu này thể hiện quan hệ gần gũi, thân thiết giữa những cá nhân lãnh đạo hai nước với nhau, vượt trên thủ tục lễ tân, vượt trên cách trao đổi ngoại giao thông thường.

Và, thứ ba: Ông Biden có sang Việt Nam hay không? Nói thật, tôi rất trông chờ chuyến thăm đó. Không biết tôi có chủ quan không, nhưng tôi nghĩ, rất nhiều người ở cả hai nước cũng đều rất trông chờ chuyến đi đó.

Quan hệ Việt - Mỹ trong hơn hai thập kỷ qua đã có những bước tiến dài, như ông vừa đánh giá. Năm nay, nhìn lại chặng đường phát triển 26 năm đó, ông muốn mô tả cụ thể thế nào quan hệ giữa hai nước?

Tôi nghĩ rằng, cụm từ “đi những bước rất dài” đã mô tả khá đủ, nhưng nếu để nói cụ thể hơn một chút, đặc biệt nói đến bước tiến trong 26 năm qua, tôi muốn nhắc lại từ “Đối tác toàn diện” trong quan hệ Việt - Mỹ. “Đối tác toàn diện” nghĩa là gì? Theo tôi, nó có nghĩa là không có lĩnh vực nào mà hai nước không thể làm đối tác của nhau. Đó là thể hiện cụ thể không chỉ về chiều dài của bước tiến, nhưng cả về chiều sâu trong mối quan hệ giữa hai nước. Ai quan tâm theo dõi quan hệ Việt - Mỹ chắc chắn cũng đều thấy rõ điều này, nhất là khi nhìn lại 9 lĩnh vực quan hệ giữa hai nước với nhau đã được nêu trong các tuyên bố chung suốt từ tháng 7/2013 đến nay mà tôi xin không liệt kê lại. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh tới quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Và tôi muốn đề cập tới khía cạnh này từ hai tư cách cá nhân: một người từng làm đối ngoại và một cựu chiến binh từng trực tiếp cầm súng đánh Mỹ.

Nhìn ở cấp độ vĩ mô, năm 2011, hai Bộ Quốc phòng Việt Nam và Mỹ đã ký Bản Ghi nhớ (MOU) về thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương. Sau đó, tháng 6/2015 - một tháng trước khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lên đường thăm Mỹ, nhân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter sang thăm Việt Nam, hai Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam và Mỹ ký bản Tuyên bố Tầm nhìn chung quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Cho dù hai văn bản này không có tính chất ràng buộc pháp lý, nhưng việc lãnh đạo của hai quân đội ngồi với nhau, trao đổi với nhau và thỏa thuận với nhau về những nội dung ở tầm chính sách này cũng đã là cực kỳ quan trọng, vượt trên hình dung của nhiều người. Ngoài những văn bản như vậy, Việt Nam và Mỹ đã hợp tác trong nhiều lĩnh vực quan trọng, vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa rất cụ thể, thiết thực đối với ta. Gần đây nhất, mới cách đây 3 tháng, ngày 9/4/2021 vừa qua, tại Vùng Cảnh sát Biển 3, phía Mỹ đã bàn giao cho Cảnh sát biển Việt Nam một Trung tâm huấn luyện, bảo dưỡng và hạ tầng biển. Đây lại là thêm một dự án hợp tác nữa, có ý nghĩa rất quan trọng đối với một quốc gia như Việt Nam: Có đường bờ biển dài hơn 3.000 km và có một Biển Đông giàu tài nguyên, là tuyến vận tải thương mại biển quan trọng của khu vực và thế giới, và cũng là nơi đã và đang phải chứng kiến những diễn biến rất phức tạp.

Từ góc độ của một cựu chiến binh từng cầm súng đánh Mỹ, tôi luôn nhớ rằng thời chiến tranh, Bác Hồ từng nói chúng ta sẵn sàng đốt cháy cả dãy Trường Sơn, sẵn sàng để Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố lớn bị tàn phá, quyết giành cho được tự do, độc lập. Bộ đội chúng tôi thì có hẳn một danh hiệu là “Dũng sĩ diệt Mỹ” - càng diệt được nhiều lính Mỹ, càng được vinh danh. Còn về phía Mỹ, khỏi cần nói nhiều, tôi chỉ xin nhắc lại ở đây tên một cuốn sách viết về Chiến tranh Việt Nam của tác giả Nick Turse, đó là “Giết bất cứ cái gì động đậy” (“Kill Anything That Moves”). Từng nhìn nhau như thế. Từng đối xử với nhau như thế. Vậy mà bây giờ có thể hợp tác với nhau như thế. Cũng xin nói rằng trong ngoại giao, người ta không nói những chuyện loại này đâu. Nhưng cánh cựu lính chiến chúng tôi và Mỹ khi gặp lại nhau sau chiến tranh, nhất là khi cùng tham gia những hoạt động chung để khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh ấy, vẫn nói với nhau về những chuyện như vậy. Đó là chẳng phải là đặc biệt sao?

Khi Mỹ có Tổng thống mới, nhiều chuyên gia nhìn nhận rằng quan hệ kinh tế Việt - Mỹ sẽ có nhiều cơ hội mới. Sau hơn nửa năm trôi qua, ông thấy sao về nhận định này?

Tôi nghĩ nhận định như vậy là hoàn toàn thoả đáng. Nhớ lại, trước năm 1994, tức là trước khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam, chúng ta không xuất khẩu sang Mỹ được một USD nào, còn nhập khẩu từ Mỹ 7 triệu USD/năm. Năm 1994, năm đầu tiên khi Mỹ bỏ cấm vận với Việt Nam, ta đã xuất khẩu sang Mỹ 50,5 triệu USD và nhập khẩu từ Mỹ 173 triệu USD. Còn năm ngoái, năm 2020, quan hệ thương mại song phương Việt - Mỹ đã đạt tới mức “đồ sộ”, nhất là khi xét tới bối cảnh COVID-19 hoành hành cả thế giới như vậy, xuất khẩu của ta sang Mỹ đạt khoảng 76,4 tỷ USD, còn ta nhập từ Mỹ khoảng 13,7 tỷ USD; tổng kim ngạch thương mại song phương lần đầu tiên vượt ngưỡng 90 tỷ USD. Hay chỉ trong 6 tháng đầu năm nay, chúng ta tiếp tục đạt được những con số rất ấn tượng: Ta xuất sang Mỹ 44,9 tỷ USD và nhập khẩu từ Mỹ 7,7 tỷ USD. Những con số này cho ta thấy hai điều.

leftcenterrightdel
Diễn đàn Việt - Mỹ "Thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong hội nhập quốc tế" được Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (LHPN) tổ chức với sự tham dự của Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam và các Bộ, ngành, cơ quan liên quan nhân dịp kỷ niệm 25 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước

Thứ nhất, Chính quyền mới của Tổng thống Joe Biden vẫn kế thừa đà phát triển kinh tế - thương mại giữa hai nước kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao cách đây 26 năm, từ đó khẳng định rằng quan hệ thương mại tiếp tục phù hợp với chiều hướng gia tăng chung trong quan hệ hai nước, dù đó là chính quyền thuộc đảng chính trị nào ở Mỹ.

Thứ hai, dưới chính quyền Tổng thống Joe Biden, bất chấp COVID-19 hoành hành như thế và trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế, xã hội đang diễn ra rất phức tạp trên khắp thế giới và trong khu vực, quan hệ kinh tế - thương mại Việt - Mỹ vẫn vững vàng là một trụ cột thực sự trong quan hệ Việt - Mỹ. Điều này gửi đi một tín hiệu rất lạc quan cho tương lai quan hệ.

Thưa ông, luận đang tỏ lo ngại về việc chính quyền Mỹ nêu vấn đề Việt Nam thao túng tiền tệ và thặng dư thương mại lớn với Mỹ… Ông nhìn nhận các vấn đề này như thế nào?

Có lẽ nên luôn nhớ tới một thực tế rằng nước Việt Nam có dân số đứng thứ 24 thế giới, cả GDP và thu nhập bình quân theo đầu người đều rất thấp so với Mỹ, vậy nhưng bây giờ - trong số 193 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc – Việt Nam lại là đối tác thương mại lớn thứ 10 của Mỹ, còn Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong thập kỷ qua. Giả sử chúng ta có một đối tác thương mại nhỏ xíu mà thặng dư nhiều và liên tục nhiều năm với ta, chắc chắn ta cũng phải đặt dấu hỏi, đúng không ạ? Tôi nghĩ chuyện đó là hoàn toàn tự nhiên. Vấn đề là khi phía Mỹ đặt dấu hỏi, ta phải làm việc với phía Mỹ cụ thể, rõ ràng thông qua đàm phán, đối thoại. Ngôn từ ngoại giao là giải quyết một cách hoà bình, hiệu quả.

Trong thực tế, từ cấp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ tới cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Công Thương… của chúng ta đều đã điện đàm với những người đồng nhiệm Mỹ. Chỉ mấy tháng qua, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh (nay là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Ban Kinh tế Trung ương Đảng) đã 2 lần điện đàm với đồng nhiệm Mỹ: Với Đại diện Thương mại Robert Highlightzer hồi tháng 1/2021 và với Đại diện Thương mại Katherine Tai hồi tháng 4/2021.

Điều rất quan trọng và rất tích cực là trong các cuộc điện đàm đó, phía Mỹ đều khẳng định tầm quan trọng của Việt Nam trong quan hệ kinh tế - thương mại, đánh giá cao hiệu quả hợp tác và sự cam kết dài hạn của Việt Nam qua nhiều khuôn khổ hợp tác. Cũng trong các cuộc điện đàm đó, ta và Mỹ nhất trí cao trong việc xác định mục tiêu giữ quan hệ thương mại ổn định, hướng tới cán cân thương mại hài hòa, bền vững và cùng có lợi. Hai bên tán thành sự cần thiết phát huy hiệu quả của những cơ chế hiện hành như Hội đồng TIFA (thương mại và đầu tư), thành lập thêm những nhóm làm việc cần thiết và tăng cường sự tham gia của các cơ quan quản lý kinh tế - thương mại của hai nước.

Theo số liệu của Cục Đầu tư Nước ngoài, đến tháng 6 năm nay, Mỹ vẫn chỉ xếp thứ 11 về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với tổng số 1.100 dự án và tổng vốn đăng ký gần 10 tỷ USD, chưa xứng với tiềm lực của Mỹ. Ông nhận định thế nào về vấn đề này?

Tôi đã nghe nhiều ý kiến về chuyện đó, đã đọc nhiều thông tin về chuyện đó và cũng đã suy nghĩ nhiều về chuyện đó. Tôi cho rằng xét trên danh mục đầu tư công khai, chính thức thì đúng là như vậy. Và vì thế, cần nghiên cứu các biện pháp để nâng mức đầu tư của Mỹ vào Việt Nam, đặc biệt vì tiềm năng của các doanh nghiệp Mỹ là rất lớn. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhìn thêm vài khía cạnh khác.

leftcenterrightdel
Trong cương vụ Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 8/4/2021, Việt Nam tổ chức Phiên họp cấp Bộ trưởng trực tuyến về chủ đề "Khắc phục hậu quả bom mìn và duy trì hoà bình bền vững: Tăng cường gắn kết để hành động hiệu quả hơn"

Thứ nhất, khi tính đầu tư của Mỹ vào Việt Nam, ta phải tính tới việc nhiều doanh nghiệp lớn của Mỹ ở Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc… không “đứng tên” nhưng thực sự có đầu tư vào Việt Nam. Số liệu thống kê của chúng ta chưa tính tới số này.

Thứ hai, nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta chưa tạo được đủ mức hấp dẫn cần thiết đối với các nhà đầu tư Mỹ. Xin nói cụ thể: Trong quá trình 35 năm Đổi mới, một trong những việc chúng ta làm thành công nhất là đã hình thành được một khuôn khổ pháp luật nói chung và một khuôn khổ pháp luật cho đầu tư nước ngoài nói riêng, từ chỗ hầu như không có luật. Song để tạo được một môi trường hấp dẫn cho đầu tư nước ngoài, có luật mới chỉ là bước đầu tiên. Bước tiếp theo phải là bộ máy chính quyền, doanh nghiệp và cả xã hội nhận thức được luật, hiểu được luật và tuân thủ luật. Đây là nơi chúng ta cần có nhiều cải thiện hơn nữa. Rồi còn phải hình thành được một hệ thống thiết chế thực thi pháp luật, một hệ thống hạ tầng phù hợp và một đội ngũ nhân sự phù hợp. Đảng, Nhà nước ta đã nói nhiều về vấn đề này. Nên nhớ rằng không chỉ các nhà đầu tư Mỹ, mà ai cũng vậy, bỏ tiền ra đều phải tính toán lỗ lãi, phải có cơ sở để đặt niềm tin thì mới móc tiền trong túi ra để đầu tư.

Thành công trong việc kiểm soát dịch COVID-19 cộng với nỗ lực cải cách đã giúp Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư nước ngoài. Ông mong chờ gì từ quan hệ Việt - Mỹ trong thời gian tới?

- Không một người Việt Nam yêu nước nào không muốn đất nước chúng ta tốt đẹp hơn và có môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và đối với các nhà đầu tư Mỹ nói riêng.

Nhân nói về đại dịch COVID -19, có thể tự hào nói rằng chúng ta đã thể hiện sự cảm thông với người dân Mỹ ngay từ đầu, khi nước Mỹ bị COVID-19 tấn công trước chúng ta và gây ra sự tàn phá ghê gớm. Mà không chỉ cảm thông. Dù so với Mỹ, chúng ta còn ít tiền bạc hơn nhiều, trình độ khoa học công nghệ thấp hơn nhiều, nhưng chúng ta đã có những chia sẻ với người dân Mỹ vào thời khắc khó khăn như gửi khẩu trang, thiết bị y tế. Ngay các thành viên, người thân và bạn bè của Câu lạc bộ Du học sinh Việt Nam tại Mỹ thuộc Hội Việt - Mỹ chúng ta cũng đã vận động quyên góp được 300.000 khẩu trang gửi tặng nhân dân Mỹ. Nước Mỹ trân trọng điều đó! Tôi nhớ, khi chuyến hàng y tế đầu tiên của chúng ta hạ cánh tại sân bay Mỹ, Tổng thống Mỹ đã viết trên Twitter lời cảm ơn. Còn chính Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Dan Kritenbrink cũng đã từng nhiều lần nói câu thành ngữ tiếng Anh này: “A friend in need is a friend indeed” – “Trong khó khăn mới biết ai là bạn”.

Sự cảm thông và những hành động này của chúng ta xuất phát từ tình cảm nhân văn, hoàn toàn vô tư, trong sáng. Chính vì vậy, nó góp phần thể hiện cái đẹp, góp phần tạo nên cái hấp dẫn của Việt Nam. Và từ đó, nó chính là một trong những cơ sở rất quan trọng để thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ. Cơ hội cho quan hệ Việt - Mỹ đang tiếp tục mở ra trước mắt chúng ta. Về phía cá nhân tôi, với tư cách là người từng làm đối ngoại, tham gia thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ, tôi rất trông chờ việc cơ hội đó được khai thác tối đa và mối quan hệ đối tác toàn diện hiện nay được mở rộng hơn nữa, đi vào chiều sâu hơn nữa, vì lợi ích của đất nước, của dân tộc ta, vì quan hệ tốt đẹp giữa người dân của hai nước. Về phía chính quyền, doanh nghiệp và xã hội ta, tôi mong rằng sẽ không chỉ có sự trông chờ mà phải có sự chuẩn bị chủ động và tích cực cho việc đó.

PV: Cảm ơn ông vì cuộc trò chuyện thú vị này

Hồng Thanh