Vị Tổng thống Mỹ đầu tiên biết đến Việt Nam

Năm 1783, Hoàng tử Cảnh được cha là Nguyễn Ánh nhờ Giám mục Bá Đa Lộc (Cha Cả) nhận làm con tin đưa sang Pháp xin cầu viện chống Tây Sơn. Năm 1789, Hoảng tử Cảnh về Sài Gòn cùng Cha Cả và một số người Pháp. Hoàng tử được phong là Nguyên Súy Quận công, được dựng phủ, được ban ấn Đông cung Chi ấn. Ông được các danh sĩ đương thời là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu lo việc giảng học đồng thời từng được giao trấn giữ những nơi trọng yếu như Gia Định, Diên Khánh. Mùa xuân năm Tân Dậu (1801), ông bị bệnh đậu mùa và mất vào ngày 7 tháng 2 khi mới 21 tuổi.

leftcenterrightdel
Hoàng tử Cảnh, con trai chúa Nguyễn Ánh

Theo các tác phẩm “Lịch sử chính sách đối ngoại của Mỹ” (A history of American Foreign Policy) của John Holladay Latane xuất bản năm 1928 và “Buổi đầu quan hệ Mỹ-Việt 1787-1940” của tác giả Robert Hopkins Miller, nhà ngoại giao Mỹ kỳ cựu có kinh nghiệm ở Việt Nam và Đông Nam Á xuất bản năm 1990, người có tiếp xúc đầu tiên và có lẽ sớm nhất với Việt Nam thông qua Hoàng tử Cảnh chính là Tổng thống thứ 3 của Mỹ Thomas Jefferson, người từng là đại diện bang Virginia tham gia Hội nghị Nghị viện lần thứ nhất của 13 bang đầu tiên của Hoa Kỳ năm 1775, là một trong những nhà lãnh đạo hàng đầu của cuộc chiến giành độc lập của nước Mỹ, người tham gia biên soạn ra Hiến pháp và Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ. Cuộc tiếp xúc này diễn ra khi Thomas Jefferson được cử sang Pháp làm Đại sứ (1784-1789), sau đó về nước làm Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên trong chính phủ của Tổng thống Washington. Sau này Thomas Jefferson trở thành vị Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ (1801-1909).

Là một luật sư nhưng Jeffterson có một trang trại tại bang Iowa nên khi ở Pháp ông luôn mong muốn tìm ra những giống lúa tốt ngon để đem về Mỹ trồng. Với hiểu biết và khả năng tìm tòi, Jefferson biết ở đồng bằng sông Cửu Long của  xứ Cochinchina (tên gọi Đàng Trong của Việt Nam thời đó) có một giống lúa thơm và trắng rất hấp dẫn. Ông rất muốn có giống lúa này để đưa về trồng tại Mỹ nên đã tìm gặp  thương nhân người Pháp  tên là De Poivre, người  đã từng buôn bán ở Viễn Đông và Việt Nam. Thương gia này đã kể cho Jefferson về vùng Viễn Đông xa xôi. Ở đó có lãnh thổ Cochinchina  với nhiều giống lúa thơm ngon. Thích thú và quan tâm, sau cuộc gặp Jeffterson đã gửi thư về nhà kể về cuộc gặp và viết: "Giống lúa cạn xứ Cochinchina, có tiếng là nõn nà, thơm ngon. Một sản vật tuyệt hảo. Giống lúa này hình như kết hợp những phẩm chất tốt đẹp của cả hai giống lúa mà chúng ta đã biết. Giá chúng ta thuần chủng được chúng thì sung sướng biết bao, bởi chúng ta có thể làm thay đổi những ao tù đọng có hại cho sức khỏe và cuộc sống con người thành đồng lúa tươi xanh".

leftcenterrightdel
Tổng thống thứ 3 của Mỹ Thomas Jefferson

Jefferson tìm hiểu và được biết Hoàng tử Cảnh của Việt Nam đang ở Paris. Ông đã tìm gặp. Tại cuộc gặp, Hoảng tử Cảnh đã hứa sẽ gửi tặng giống lúa cho đại sứ Mỹ. Sau cuộc gặp, Jeffterson phấn khởi viết thư về nhà nói rằng ông rất hy vọng sẽ tìm được giống lúa cạn xứ Cochinchina bởi vị Hoàng tử đã cam đoan. Nhưng lời hứa của vị Hoảng tử trẻ không có hồi âm. Jeffterson vẫn hy vọng ngày nào đó sẽ tìm được giống lúa của Việt Nam nên trước khi về Mỹ, tháng 3 năm 1789, ông còn  viết thư cho một người Pháp khác nhờ họ tìm "một trong những giống lúa cạn trồng ở Cochinchina. Loại cây nông nghiệp không đòi hỏi thứ nước nào ngoài nguồn nước từ những cơn mưa thông thường vì mặt trời và đất đai của xứ Carolina đủ sức đảm bảo việc gieo trồng đạt kết quả”. 

Còn Hoàng tử Cảnh, khi về nước đã quên lời hứa gửi giống lúa cho Jeffterson. Ông mất sớm vì bạo bệnh năm 21 tuổi. Giá như ông giữ lời hứa và quan hệ với Jeffterson và không mất sớm để có thể kế vị vua  Gia Long, biết đâu bang giao Việt-Mỹ sẽ có những điều thú vị.

Thương nhân Mỹ đầu tiên đến Việt Nam 

Cũng theo Robert Hopkins Miller, năm 1802, gia đình Crowninshield, một trong những chủ hãng tàu biển lớn của Mỹ thời đó ở Salem, Massachusetts đã quyết định gửi một con tàu đến Đàng Trong để thử tìm nguồn cung cấp đường và cà phê. Ngày 21/5/1803, tàu The  Fame với  thuyền trưởng là Jeremiah Briggs, thả neo ở vịnh Turon (Đà Nẵng), đánh dấu lần đầu tiên một thương thuyền Mỹ giong buồm vào một cảng ở Việt Nam. Sau đó, được sự giúp đỡ của những người Pháp, Jeremiah Briggs đã dùng  một thuyền  nhỏ từ Đà Nẵng ra Huế để xin phép được buôn bán. Việc xin phép khá dễ dàng, nhưng tình hình Việt Nam lúc đó chưa thật ổn định nên việc buôn bán không thuận lợi, thuyền trưởng  Briggs chỉ ở Huế 6 ngày rồi trở lại Đà Nẵng. Ngày 10-6-1803, tàu The Fame rời  Đà Nẵng đi Manila ( Philippines) chở theo một số đường và gạo. 

leftcenterrightdel
 

Trong những ngày ở Việt Nam,  thuyền trưởng John Briggs đã ghi lại nhật ký trong hành trình của mình. Ông miều tả và nhận xét về nhưng khó khăn của Việt Nam thời đó, một số hoạt động của triều đình Huế và về những người dân Việt Nam sống nghèo, chủ yếu trong những túp lều nhỏ sơ sài và thức ăn chủ yếu là cá. Còn người Pháp đang có nhiều hoạt động và ảnh hưởng ở Việt nam. 

leftcenterrightdel
 

Như vậy, có thể nói người Mỹ tiếp xúc đầu tiên với người Việt Nam là Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ vào năm 1787 tại Paris và người Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam là thuyền trưởng Briggs cùng các thủy thủ của ông  và địa điểm đầu tiên của Việt Nam đón người Mỹ là Đà Nẵng vào ngày 21/5/1803.

Nguyễn Văn Huỳnh, Ủy viên Thường vụ Hội Việt - Mỹ