Cuộc tiếp xúc Mỹ - Việt chính thức đầu tiên diễn ra vào năm Minh Mạng thứ 13. Khi ấy phái bộ ngoại giao của Mỹ lúc ấy do ông Edmund Roberts dẫn đầu với quốc thư của Tổng thống Jackson. Phái bộ đi tàu Peacock, đến đậu tại Vũng Lắm, vịnh Xuân Đài, tỉnh Phú Yên vào cuối năm 1932. Edmund Roberts gặp được Tuần Vũ tỉnh Phú Yên và trình bày ý muốn của nước Mỹ muốn giao hảo với nước Việt. Tuần Vũ tâu lên vua Minh Mạng và được nhà vua đồng ý đón tiếp.

Ý kiến của vua Minh Mạng được ghi rõ trong Minh Mạng Chính yếu như sau: “Quốc gia Nhã Di Lý sai sứ thần tới dâng quốc thư yêu cầu thông hiếu với Việt Nam. Thuyền của sứ bộ bị sóng dạt ghé vào vùng duyên hải tỉnh Phú Yên.

Nhà vua hay tin, liền sai quan viên ngoại là Nguyễn Tri Phương tới nơi cật vấn. Sứ bộ trả lời là nước họ chỉ muốn giao hiếu thông thương mà thôi.

Về việc này, nhà vua dụ các quan Nội rằng:

- Người ta từ xa tìm tới, bản ý là cung thuận. Triều đình ta với tinh thần mềm dẻo quí mến người phương xa, không tiếc gì mà không dung nạp họ. Tuy nhiên, họ mới tới lần đầu các chi tiết lễ nghi về ngoại giao thông hiếu, chưa được am tường; có thể sai quan Thương bạc viết tư văn thông báo cho nước họ biết, nếu muốn thông thương mậu dịch với nước ta, ta cũng không cự tuyệt, nhưng phải tuân theo những hiến định đã có từ trước tới nay.

leftcenterrightdel
Đà Nẵng thế kỷ 19

Từ nay nếu có thương thuyền tới, thì cho phép được ghé vào cửa Đà Nẵng, Trà Sơn Úc, bỏ neo tại đó, chứ không được tự ý lên bộ. Đó là ý cảnh giác phòng gian nằm trong chính sách ngoại giao mềm dẻo của ta vậy”.

Thái độ của Minh Mạng thể hiện rõ chủ trương cởi mở, cụ thể, chặt chẽ của một nước.

Về sự kiện này, bộ sử biên niên của triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, quyển 86, ghi vào tháng 11 năm Nhâm Thìn (1832) rằng:

“Quốc trưởng nước Nhã Di Lý (nước này ở Tây Dương, hay còn được gọi là Hoa Kỳ, hoặc gọi là Ma Ly Căn, hoặc gọi là Anh Cát Lợi Mới đều là biệt hiệu nước ấy) Sai bọn bề tôi là Nghĩa Đức Môn La Bách Đại, Uý Đức Giai Tâm Gia (tên hai người) đem quốc thư xin thông thương thuyền ở cửa vụng Lấm thuộc Phú Yên. Vua sai viên ngoại lang Nguyễn Tri Phương, tự vụ Lý Văn Phức đi hội với quan tỉnh, lên trên thuyền thiết tiệc, và hỏi lý do đến đây làm gì. Họ nói: “Chỉ đến vì muốn giao hiếu và thông thương”. Nói năng rất cung kính. Đến lúc dịch thư ra có nhiều chỗ không hợp thể thức.

Vua bảo không cần đệ trình thư ấy. Rồi cho quan quyền lãnh chức Thương bạc làm tờ trả lời. Đại lược nói: “Nước ấy muốn xin thông thương, cố nhiên là ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật đã định. Từ nay, nếu có đến buôn bán thì cho đỗ ở vụng Trà Sơn, tấn sở Đà Nẵng, không được lên bờ làm nhà, vượt quá kỷ luật rồi giao thư cho họ mà bảo họ đi”. (Bản dịch của Viện Sử học, Sdd. tập XI, tr. 231).

leftcenterrightdel
Lăng Vua Minh Mạng tại Huế

Nội dung lá thư “có nhiều chỗ không hợp thể thức” như thế nào, xin trích nguyên văn: 

ANDREW JACKSON, Tổng thống Hợp Chúng Quốc Mỹ

Kính gửi Đại quý hữu…

Thư này sẽ dâng lên Hoàng thượng do Edmund Roberts, một công dân danh vọng của Hợp Chúng Quốc. Ông này đã được bổ nhiệm chức Đặc Uỷ viên của Chính phủ chúng tôi để thương thuyết với Hoàng thượng những vấn đề quan yếu.

Tôi trân trọng xin Hoàng thượng che chở đương sự trong khi thừa hành nhiệm vụ đã được giao phó và xin cho đương sự được đối đãi tử tế. Tôi tin cậy hoàn toàn những điều mà đương sự sẽ đề đạt lên Hoàng thượng nhất là tình thân hữu hoàn toàn và tất cả thiện chí của chúng tôi đối với Hoàng thượng.

Tôi cầu xin Đức Chúa Trời luôn luôn phù hộ Đại quý hữu.

Để chứng minh các điều nói trên, tôi cho kèm quốc ấn của Hợp Chúng Quốc trên bản tài liệu này. Lập với bản ấn tại thành Hoa Thịnh Đốn, ngày ba mươi mốt (31) tháng Giêng Dương lịch 1832 và là năm thứ năm mươi sáu của nền độc lập Hợp Chúng Quốc.

ANDREW JACKSON

Thừa lệnh Tổng thống

EDW, LIVINGSTON

Quốc Vụ Khanh

Lý do vua Minh Mạng không tiếp phái bộ Hoa Kỳ chỉ vì lá thư của Tổng thống Mỹ “… có nhiều chỗ không hợp thể thức”. Những chỗ không hợp thể thức đó có lẽ là trong bức thư có một khoảng trống chưa điền rõ tên Hoàng đế (Minh Mạng) và tên nước Việt Nam. Một ông vua uy nghiêm, tự trọng, nguyên tắc như vua Minh Mạng không thể nhận một cái quốc thư không đề tên nước được nhận như thế. Sự thiếu sót này một phần do phái bộ Edmund Roberts và một phần do hai nhà ngoại giao Nguyễn Tri Phương và Lý Văn Phức không giúp đỡ cho họ trước khi họ đệ trình lên vua Minh Mạng. Như vậy việc quan hệ ngoại giao Mỹ - Việt đầu tiên không thành chính vì những người thừa hành của hai nước chứ không phải vì vua Minh Mạng hẹp hòi, cự tuyệt mọi quan hệ với người Tây phương.

leftcenterrightdel
Tàu Peacock

Lại nói, nhà vua ban chỉ dụ cử Nguyễn Tri Phương và Lý Văn Phức làm Thương bạc đại thần tiếp xúc và thông báo với phái bộ Edmond Roberts các quan điểm của triều đình nhà Nguyễn. Sau khi được thông báo, Roberts cho tàu nhổ neo rời Việt Nam, tàu Peacock qua neo tại cửa sông Ménam vào ngày 18/2/1833 và được triều đình Thái Lan đón tiếp rất linh đình. Về sau, còn biết Việt Nam không phải là địa điểm duy nhất mà phái bộ Roberts ghé đến. Trong sứ mạng này, họ đã tiếp xúc và ký với nước Xiêm (Thái Lan) và Mascate các thỏa ước thương mại.

leftcenterrightdel
Tổng thống Mỹ Andrew Jackson

Sau khi tàu Peacock rời VN, triều đình Huế cũng không bận tâm gì về hành tung của họ nữa. 

Thời gian qua đi, 4 năm sau (1836), Edmund Roberts lại được chính phủ Hoa Kỳ giao nhiệm vụ đi tàu Peacock trở lại Việt Nam để ký một hiệp ước thương mại. Người trưởng tàu Peacok là đại uý Hải quân E.P. Kennedy.

Tàu Peacock trở lại Việt Nam, thả neo ở vịnh Trà Sơn (Đà Nẵng), theo đúng quy định đã thông báo cho họ lần trước. Lần này, họ khởi hành từ New York vào ngày 23/4/1835, thực hiện cuộc hành trình dài qua Rio de Janeiro, Zanzibar, Mascate, Bombay, Colombo, Batavia để ghé lại Xiêm. 

Hoàn thành công tác ở Xiêm, ngày 20/4/1836, Roberts cho tàu hướng về Việt Nam. Ông ta nắm trong tay một văn kiện đề ngày 20/3/1835 của chính phủ Mỹ hướng dẫn việc thảo luận một thương ước với Việt Nam và một thỏa hiệp tương tự với Nhật Bản. Khi được quan địa phương tâu về, vua Minh Mạng đã triệu tập quần thần lại để bàn bạc. Có hai ý kiến trái ngược nhau: Thị lang bộ Hộ Đào Trí Phú đề nghị cho phép phái bộ Mỹ đến kinh đô, để họ ở Sở Thương bạc, cắt cử quan lại tiếp họ và thăm dò ý định thực sự của họ ra sao; Thị lang Nội các Hoàng Quỳnh thì cho rằng nước Mỹ rất xảo quyệt, cần cắt đứt mọi mối quan hệ với họ. 

Vua Minh Mạng đã suy nghĩ hồi lâu rồi truyền rằng: “Bọn họ đi xa 40 ngàn dặm biển do bởi tình cảm trân trọng đối với quyền uy và thế lực của triều đình ta. Nếu ta dứt khoát cắt đứt mọi quan hệ với họ, ta sẽ cho họ thấy là nước ta không bao giờ có thiện chí cả” (tạm dịch từ Tập san Đô thành Hiếu cổ (BAVH-Bulletin des Amis du Vieux Hué) số 3 năm 1941). 

leftcenterrightdel
Vua Minh Mạng

Sự kiện Edmund Roberts trở lại Việt Nam lần thứ hai được Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, quyển 168, trang 3 chép như sau:

“Tháng 4 năm Bính Dần niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836). Tỉnh thần Quảng Nam tâu: Có sứ thuyền nước Ma Ly Căn đậu ở vũng Trà Sơn thuộc Đà Nẵng Quảng Nam, nói có quốc thư cầu thông đạt, xin vào chầu. Quan tỉnh đem việc tâu lên. Vua hỏi thị lang Bộ Hộ Đào Trí Phú rằng: - Xem tình ý lời lẽ của họ tỏ ra cung thuận, vậy có nên nhận hay không? Trí Phú thưa: - Họ là người nước ngoài, tình ý giả dối cũng chưa biết chừng. Thần tưởng hay cho họ vào Kinh, lưu ở công quán Thương bạc, phái người đến khoản đãi để thăm dò ý họ đến.

Thị lang Nội các Hoàng Quý tâu nói: Nước họ xảo quyệt muôn mặt, nên cự tuyệt đi. Một khi dung nạp sợ để lo cho đời sau. Người xưa đóng cửa ải Ngọc quan, tạ tuyệt Tây vực, thực là chước hay chống cự Nhung địch.

Vua nói:

- Họ xa cách trùng dương trên 4 vạn dặm, sao lại cự tuyệt, chẳng hoá tỏ ra cho người ta thấy mình không rộng rãi ư?

(Vua) liền sai Đào Trí Phú cùng với Thị lang Bộ Lại Lê Bá Tú, làm thuộc viên Thương bạc, đến tận nơi uỷ lạo thăm hỏi. Khi đến nơi, viên thuyền trưởng nói là bị ốm, không tiếp kiến được. Ta sai thông ngôn đến thăm: họ cũng sai người đáp lễ. Rồi ngay ngày ấy, giương buồn kéo đi. Bọn Trí Phú đem việc tâu lên và nói:

- Chợt đến chợt đi thật không có lễ nghĩa.

Vua phê bảo rằng:

- Họ đến, ta không ngăn. Họ đi, ta không đuổi theo. Lễ phép văn minh có trách gì man di cõi ngoài.

Đoạn sử này một lần nữa thể hiện rõ ý kiến sáng suốt của vua Minh Mạng. Nhà vua đã gạt bỏ ý kiến bảo thủ “bế quan toả cảng” của quan Thị lang Nội các Hoàng Quýnh và sai Đào Trí Phú và Lê Bá Tú thực hiện chính sách giao hiếu với Hoa Kỳ của ông. Không may khi đoàn ngoại giao ta đến gặp thì trưởng phái bộ Hoa Kỳ Edmund Roberts bệnh nặng không tiếp được. Đoàn ta cử thông ngôn đến thăm và phái bộ Mỹ đáp lại bằng cách cử người đến gặp phái đoàn Việt Nam để cảm ơn. Ngay sau đó thì phái đoàn Mỹ rời Việt Nam một cách vội vã. Việc ngoại giao không thành, những quan lại bảo thủ được một phen lên mặt mỉa mai.

Hành tung bí ẩn của phái bộ Roberts trôi dần vào quên lãng, mãi cho đến năm 1939, tức hơn 100 năm sau, nó mới được giải mã bởi L. Sogny, Chánh sở Mật thám Pháp, một cây bút thường viết cho tập san Đô thành Hiếu cổ (BAVH). Trong lúc tìm hiểu sự việc, Sogny đọc được trên tạp chí The American Foreign Service Journal (Tạp chí Ngoại vụ Mỹ) bài viết của W. Everett Scotten, một viên chức ngoại giao từng làm Phó Lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn. 

Nội dung bài viết cho biết là vào năm 1836 đó, khi các quan Thương bạc Việt Nam đến nơi tàu của phái bộ Mỹ đang neo đậu thì trưởng phái bộ Roberts đang mắc phải một căn bệnh đã bị nhiễm từ hồi ông ta đang ở Xiêm, tàu Peacock phải giong buồm nhanh để tìm nơi chữa bệnh cho ông ta. Ngày 12/6/1836, khi tàu đến Macao thì Roberts qua đời. Từ Quảng Đông, Trung Quốc, đại úy thuyền trưởng Kennedy gửi một báo cáo cho Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, thông báo về cái chết của Roberts, và lý do vì sao tàu Peacock phải đột ngột rời vịnh Tourane (Đà Nẵng) vào ngày 21/5/1836: “Chúng tôi phải ở lại 8 ngày tại vịnh Đà Nẵng, nhưng vì chứng bệnh quá nặng của ông Roberts, chúng tôi không làm gì được ở đây cả, và chúng tôi phải rời hải cảng ấy vào ngày 21/ 5”.

Việc quan hệ Việt - Mỹ lần thứ hai không thành vì trưởng phái bộ Hoa Kỳ Edmund Roberts bệnh và phải rời Đà Nẵng gấp chứ không phải vì bất cứ một lý do nào về phía vua Minh Mạng. Và căn cứ vào những diễn biến của câu chuyện này, ta không thấy có chỗ nào nói lên chủ trương bế môn tỏa cảng của vua Minh Mạng Nếu lúc đó nhà vua biết được tin trưởng phái bộ Hoa Kỳ Edmund Roberts bệnh nặng và đã mất sau đó (ngày 12/6/1836) có lẽ nhà vua không khỏi nhỏ một giọt lệ tiếc thương. 

Quan hệ Việt - Mỹ là một công việc hoàn toàn mới khi đó. Về chủ trương chung không có điều gì có thể chê trách được vua Minh Mạng. Sở dĩ việc ấy không thành là vì cấp thực hiện. Cuộc tiếp xúc lần đầu (1832), do khả năng ngoại giao hạn chế của Nguyễn Tri Phương và Lý Văn Phức. Lần gặp gỡ thứ hai (1836) gặp phải sự “bàn lui” của Hoàng Quýnh nhưng vua Minh Mạng đã vượt qua bằng cách sai Đào Trí Phú và Lê Bá Tú thay thế. Việc không thành chính vì bệnh tình đột ngột của người cầm đầu phái bộ Hoa Kỳ. 

Căn cứ vào thực tế lịch sử, chúng ta biết rằng quan hệ giữa các quốc gia, nhất là giữa phương Đông và phương Tây, từ thế kỷ 19 trở về trước, không như thế kỷ 20 và ngày nay. Thuở ấy, phương tiện vận chuyển còn thô sơ, không có máy bay và tàu thủy hiện đại, không có đường liên lạc viễn thông, người của các quốc gia không qua lại với nhau nhiều, nhiều nơi hầu như không có, các mối quan hệ nếu có thì trước hết và quan trọng nhất là quan hệ về thương mại, tạo điều kiện cho người hai nước qua lại, buôn bán với nhau. Chuyện phái bộ Roberts của Mỹ sang Việt Nam những năm 1832 và 1836 thì mục tiêu chính của chính quyền Mỹ cũng không ngoài lãnh vực thương mại. Nếu Edmund Roberts không ngã bệnh thì một Hiệp ước thương mại Mỹ - Việt đã có thể ra đời cách đây 185 năm (1836 - 2021). Nếu Hiệp ước thương mại đó đã được ký kết, qua quan hệ buôn bán trên một thế kỷ, hai dân tộc Việt - Mỹ chắc hẳn đã hiểu nhau hơn.

GS. Dương Trung Quốc